MÙA XUÂN KHÔNG CHỈ LÀ HOA NỞ
Có những mùa xuân bắt đầu bằng tiếng pháo. Có những mùa xuân bắt đầu bằng tiếng chúc tụng. Và có những mùa xuân bắt đầu bằng một phiên tòa.
Năm nay, sự việc của cộng đồng đã được đưa ra tòa vào đúng ngày mùng Một Tết. Không ai mong điều đó. Không ai muốn ngày đầu năm lại gắn với hai chữ “pháp lý”.
Chúng ta là một cộng đồng tị nạn, một cộng đồng đã trải qua quá nhiều biến cố lịch sử. Chúng ta xây dựng đời sống mới trên nền tảng tự do, luật pháp và dân chủ. Vậy mà hôm nay, chính chúng ta lại phải nhờ đến tòa án để phân xử nội bộ của mình.
Đó là điều buồn. Nhưng buồn không có nghĩa là sai. Và buồn không có nghĩa là không cần thiết. Trong bất kỳ tổ chức nào, nội quy không phải là hình thức. Nó là bản cam kết chung giữa những người tham gia.
Khi một nhiệm kỳ kết thúc, quyền lực kết thúc theo. Khi một cơ chế bầu cử đã được thiết lập, nó phải được tôn trọng. Khi một tập thể hội đoàn đã bỏ phiếu, quyết định ấy phải có giá trị.
Nếu những nguyên tắc căn bản đó bị phá vỡ, thì cộng đồng sẽ vận hành dựa trên điều gì? Thiện chí? Niềm tin cá nhân? Hay sự im lặng vì ngại va chạm?
Chúng ta đã thử hòa giải. Đã gửi tối hậu thư. Đã kêu gọi đối thoại.
Nhưng khi nội quy không được phục hồi, khi các quyết định không được tôn trọng, khi lời kêu gọi không được lắng nghe, thì con đường pháp lý trở thành lựa chọn cuối cùng.
Không phải để thắng. Mà để xác lập ranh giới. Không có nỗi buồn nào lớn hơn khi cùng một cộng đồng phải bước vào phòng xử án.
Những người từng ngồi chung bàn họp. Từng tổ chức chung lễ hội.
Từng chụp hình chung trong các dịp kỷ niệm.
Giờ đây phải đứng ở hai phía của một hồ sơ pháp lý. Đó là hình ảnh không ai mong muốn. Nhưng đôi khi, để cứu một căn nhà đang nứt nền móng, người ta phải chấp nhận đục bỏ những viên gạch sai lệch.
Không làm, căn nhà sẽ sập. Làm, sẽ đau. Nhưng đau còn hơn tan vỡ. Tết không chỉ là thời khắc giao mùa. Tết còn là lúc người ta nhìn lại. Nhìn lại một năm đã qua. Nhìn lại những quyết định đã đưa ra. Nhìn lại mình.
Đưa vụ việc ra tòa trong ngày đầu năm không phải là điều xúc phạm truyền thống. Ngược lại, đó là cách nói với thế hệ sau rằng:
Chúng ta không dùng cảm xúc để giải quyết xung đột. Chúng ta dùng luật pháp. Chúng ta không nhân danh hòa khí để bỏ qua sai phạm.
Chúng ta chọn nguyên tắc. Một cộng đồng trưởng thành không phải là cộng đồng không có khủng hoảng. Mà là Cộng Đồng biết xử lý khủng hoảng bằng chuẩn mực.
Luật pháp không quan tâm anh là ai. Không quan tâm anh đã đóng góp bao nhiêu năm. Không quan tâm anh được ai ủng hộ. Luật pháp chỉ hỏi ba điều:
Anh có thẩm quyền không? Anh có làm đúng quy trình không? Anh có tôn trọng quyền của người khác không? Nếu câu trả lời không rõ ràng, thì tòa án sẽ làm rõ. Đó không phải là hành động chống lại cá nhân. Đó là bảo vệ cấu trúc.
Nếu chúng ta để tiền lệ “quyền lực vượt khỏi nhiệm kỳ” tồn tại, thì nhiệm kỳ sau cũng có thể làm như vậy. Nếu chúng ta chấp nhận “hủy bỏ cơ chế bầu cử khi bất lợi”, thì tương lai bầu cử chỉ còn là hình thức.
Một Cộng Đồng không tôn trọng giới hạn quyền lực sẽ không còn được tôn trọng. Điều đáng sợ nhất không phải là một phiên tòa. Điều đáng sợ nhất là thế hệ trẻ nhìn vào và rút lui.
Họ sinh ra và lớn lên trong một xã hội pháp quyền. Họ hiểu rằng quyền lực có giới hạn. Họ hiểu rằng quy trình không phải để trang trí. Khi họ thấy bầu cử bị vô hiệu hóa. Thấy cơ chế giám sát bị loại bỏ. Thấy quyết định tập thể bị phớt lờ.
Họ không tranh cãi. Họ rời đi. Và một Cộng Đồng có thể tồn tại bao lâu nếu không còn người trẻ bước vào? Mùa xuân đẹp đến mấy cũng sẽ qua. Nếu không có mầm mới, cây sẽ già cỗi. Chúng ta phải nói rõ điều này:
Không ai thắng khi vụ việc ra tòa. Không Hội Đoàn nào vui. Không xã hội dân sự nào hả hê. Không cá nhân nào tự hào. Chỉ có một điều duy nhất được bảo vệ:
nguyên tắc. Nếu tòa xác định có sai phạm, thì đó là bài học. Nếu tòa xác định không có sai phạm, thì cũng là bài học. Nhưng ít nhất, chuẩn mực sẽ được xác lập bằng luật pháp – không bằng cảm tính.
Chúng ta không chống ai. Chúng ta chống sự tùy tiện. Chúng ta không tìm xung đột. Chúng ta tìm trật tự. Chúng ta không mong hạ bệ cá nhân. Chúng ta mong khôi phục quy trình.
Cương quyết không có nghĩa là cay nghiệt. Kiên định không có nghĩa là hằn học. Một cộng đồng tự do phải đủ trưởng thành để đưa vấn đề ra ánh sáng, thay vì giải quyết trong bóng tối.
Có lẽ điều chúng ta mong nhất không phải là một phán quyết nghiêng về bên nào. Mà là sau tất cả, cộng đồng này bước ra khỏi khủng hoảng với:
Một quy trình rõ ràng hơn. Một giới hạn quyền lực minh bạch hơn.
Một niềm tin được phục hồi. Mùa xuân năm sau, khi chúng ta nhìn lại, hy vọng có thể nói:
Chúng ta đã chọn đúng con đường. Con đường Luật Pháp. Con đường không dễ đi. Nhưng là con đường duy nhất để Cộng Đồng này không trượt khỏi quỹ đạo.
Mùng Một Tết năm nay bắt đầu bằng một hồ sơ pháp lý. Đó không phải điều chúng ta mong. Nhưng có những quyết định không dễ dàng, và có những quyết định khó nhưng không thể không làm.
Chúng ta chọn luật pháp không phải vì muốn hơn thua.
Mà vì muốn Cộng Đồng này còn tồn tại. Buồn – nhưng cần thiết.
Đau – nhưng phải làm. Tình cảm – nhưng không nhượng bộ nguyên tắc.
Vì nếu Luật Pháp không được tôn trọng hôm nay, thì ngày mai sẽ không còn Cộng Đồng để bảo vệ!
Video Tin Sydney. Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do và ông Hà Cao Thắng chính thức bị thưa ra tòa Thượng Thẩm NSW
Tối ngày 13/02/2026 tại Văn phòng Hội Cao Niên vùng Cabramatta. được sự tín nhiệm của 29/31 Hội Đoàn, Đoàn Thể NSW. Hội Đồng Tư Vấn Giám Sát NSW cùng Tổ Chức Xã Hội Dân Sự chính thức tuyên bố đã nộp đơn kiện Ban Chấp Hành Cộng Đồng do ông Hà Cao Thắng hiện đang thao túng ra trước Toà Thượng Thẩm NSW qua các hành động sai trái liên tiếp trong thời gian gần đây .
Tưởng cũng cần nhắc lại: Trong thời gần đây, ông Hà Cao Thắng đã ngưng tư cách tham gia của một số Hội Đoàn, Đoàn Thể NSW. Hội Đồng Tư Vấn Giám Sát NSW và cá Nhân không thuộc về phe nhóm của ông, cũng như truất quyền của Ủy Ban Bầu Cử khi nhận ra rằng, sẽ có một liên danh khác cũng sẽ ra ứng cử với liên danh của ông thụ ủy trong trong nhiệm kỳ sắp tới.
Xa hơn nữa, ông Hà Cao Thắng quyết định ngưng tư cách Hội Viên cá Nhân của bà Luật Sư Kate Hoàng, Thụ Uỷ Liên Doanh Hậu Duệ Việt Nam Cộng Hoà, không được ra ứng cử với Liên Danh Tương Lai của ông thụ ủy trong nhiệm kỳ 2025-2027.
Trước các vi phạm Nội Qui trầm trọng kể trên của ông Hà Cao Thắng và Ban Chấp Hành đã dẫn đến việc mang vụ án này ra trước Toà Thượng Thẩm trong những ngày tháng sắp tới.
Vi Manh ghi nhận từ
Cabramatta 13/02/2026
* ↓ Audio Facebook Duy Tien Tran ↓
NGUỒN GỐC - Ý NGHĨA CỦA "TẾT"
Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết năm mới hay chỉ đơn giản là : TẾT) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam
Các di vật khảo cổ cho thấy, chúng ta đã từng có 1 nền văn minh rực rỡ chẳng kém cạnh ai. Từ thời Văn Lang – Âu Lạc Vua Hùng Vương, An Dương Vương đã hình thành nên những phong tục, tập quán của người Việt, trong đó có tục “ăn Tết” trong những ngày đầu năm mới.
Minh chứng rõ nhất cho việc này đó là sự xuất hiện của bánh chưng, bánh dày, nhờ sáng kiến của Lang Liêu, con trai thứ 18 của đời Hùng Vương thứ 6. Và sự tích “Bánh chưng bánh dày” biểu trưng cho quan niệm “Trời tròn – Đất vuông” phù hợp với quan niệm phát triển nông nghiệp của tộc Việt.
Văn hóa Việt thuộc nền văn minh nông nghiệp lúa nước, do nhu cầu canh tác nông nghiệp, đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau-ứng với 1 tiết là 1 khắc được gọi là "giao thời". Trong đó, tiết quan trọng nhất là " Tiết Nguyên Đán", tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng
Nguyên gốc của chữ “TET" chính là “Tiết”.
Hai chữ “Nguyên Đán”, “Nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu và “Đán” là buổi sáng sớm.
Cho nên đọc đúng phải là “Tiết Nguyên Đán”, theo năm tháng gọi khác đi là: " Tết Nguyên Đán", rồi rút gọn lại cho dễ nhớ chỉ một từ là "TẾT" cho đến tận bây giờ và sẽ mãi mãi sau này.
Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch (Tết Tây).
Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch.
Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).
Ý NGHĨA SÂU SẮC NGÀY TÊT
Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống của Việt Nam, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây.
Tết Nguyên Đán biểu hiện sự giao thoa giữa trời đất và con người với thần linh, giữa con người và thiên nhiên.
Tết, thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự luân chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Người Việt Nam có tục lệ hằng năm mỗi khi Tết đến Xuân về, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu đều mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà,… được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương của tuổi thơ yêu dấu. “Về quê ăn Tết”, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về với cội nguồn, nơi chôn nhau cắt rốn.
Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng, làng xóm được mở rộng, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình cảm gia đình, tình cảm thầy trò, bệnh nhân với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác hợp thành đôi lứa, bè bạn cố tri…
Tết cũng là ngày tưởng nhớ đến những người đã khuất. Từ bữa cơm ngày 30, trước giao thừa, các gia đình đã thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên và những người thân đã qua đời về vui Tết với con cháu (cúng gia tiên). Trong mỗi gia đình Việt Nam, bàn thờ gia tiên có một vị trí rất quan trọng.
Bàn thờ gia tiên ngày Tết là sự thể hiện lòng tưởng nhớ, kính trọng của người Việt đối với tổ tiên, người thân đã khuất với những mâm ngũ quả được lựa chọn kỹ lưỡng; mâm cỗ với nhiều món ngon hay những món ăn quen thuộc của người đã mất.
Từ đây cho đến hết Tết, khói hương trên bàn thờ gia tiên quyện với không khí thiêng liêng của sự giao hòa vũ trụ làm cho con người trở nên gắn bó với gia đình của mình hơn bao giờ hết. Để sau Tết Nguyên Đán, cuộc sống lại bắt đầu một chu trình mới của một năm.
Mọi người trở về với công việc thường nhật của mình, mang theo những tình cảm gia đình đầm ấm có được trong những ngày Tết để hướng đến những niềm vui trong cuộc sống và những thành công mới trong tương lai.
Tết là ngày đầu tiên trong năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và “làm mới” mọi việc. Việc làm mới có thể được bắt đầu về hình thức như dọn dẹp, quét vôi, sơn sửa trang trí lại nhà cửa. Sàn nhà được chùi rửa, chân nến và lư hương được đánh bóng. Bàn ghế tủ giường được lau chùi sạch sẻ. Người lớn cũng như trẻ con đều tắm rửa và mặc quần áo mới.
Đây cũng là dịp mọi người làm mới lại về phần tình cảm và tinh thần để mối liên hệ với người thân được gắn bó hơn, tinh thần thoải mái, tươi vui hơn. Với mỗi người, những buồn phiền, cãi vã được dẹp qua một bên. Tối thiểu ba ngày Tết, mọi người cười hòa với nhau, nói năng từ tốn, lịch sự để mong suốt năm sắp tới mối quan hệ được tốt đẹp.
Người Việt Nam tin rằng những ngày Tết vui vẻ đầu năm báo hiệu một năm mới tốt đẹp sẽ tới. Năm cũ đi qua mang theo những điều không may mắn và năm mới bắt đầu mang đến cho mọi người niềm tin lạc quan vào cuộc sống. Nếu năm cũ khá may mắn, thì sự may mắn sẽ kéo dài qua năm sau.Với ý nghĩa này, Tết còn là ngày của lạc quan và hy vọng.
Tết là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là mừng nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ nhỏ và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi; còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được báo hiếu và hưởng ân phúc.
Xin Kính Chúc Mọi Gia Đình Khắp Nơi Trên Toàn Cầu Vui Tết Đón Xuân An Lành, Hạnh Phúc.
Trân Trọng,
Cao Kim Dung.
Những ngày giáp Tết
Một cuộc hội ngộ hy hữu và cảm động
Tôi vốn dự định sẽ tiếp tục viết và chia sẻ cùng bạn bè những nơi mình đi qua trong chuyến du lịch lần này theo trình tự thời gian. Thế nhưng, có những khoảnh khắc không thể chờ đợi. Có những cuộc gặp, nếu không được kể ra ngay, thì chính lòng mình cũng thấy thôi thúc và cả day dứt. Và vì thế, tôi xin được tạm gác lại dòng hành trình, để kể về cuộc hội ngộ kỳ thú giữa ông Peter Anderson và chúng tôi, xảy ra hôm qua tại Timaru.
Vâng, kỳ thú – bởi quả thật đó là một cuộc gặp gỡ vừa kỳ lạ, vừa xúc động, như thể không hoàn toàn là ngẫu nhiên, mà có phần được sắp đặt bởi một cơ duyên nào đó từ Trời cao.
⸻-------
Hôm qua, trên chuyến xe bus đi tìm hiểu quanh thị trấn Timaru, người hướng dẫn tour của chúng tôi là một cựu quân nhân New Zealand, nay đã gần 80 tuổi. Ông Peter Anderson không phải là một hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp. Ông chỉ là một người làm thiện nguyện, theo xe bus để giới thiệu đôi điều về địa phương và giúp gây quỹ cho nhà thờ. Mọi cử chỉ của ông đều toát lên sự lặng lẽ, khiêm nhường – như chính cuộc đời ông, với những tâm sự thầm kín được giữ lại cho riêng mình suốt nhiều thập niên.
Cuộc hội ngộ bắt đầu khi ông nhìn thấy chiếc áo HS–TS với bản đồ Việt Nam do một người trong nhóm chúng tôi mặc. Ông nói rằng ông biết chúng tôi đến từ đâu. Chúng tôi gợi chuyện, và khi biết ông từng tham gia Chiến tranh Việt Nam, chúng tôi ngỏ lời cám ơn ông vì đã chiến đấu để bảo vệ tự do cho Miền Nam Việt Nam.
Ông sững lại.
Đôi mắt già nua bỗng ngấn lệ.
Ánh mắt ông nói cho biết lời cám ơn ấy đã chạm đúng vào một nỗi đau vẫn âm ỉ suốt hơn nửa thế kỷ.
Ông sinh năm 1947, được điều động sang Việt Nam năm 1969, phục vụ tròn một năm. Khi ấy, ông và những người đồng đội chỉ là những chàng trai rất trẻ, đi vào chiến tranh theo lệnh điều động của quân đội và tiếng gọi của đất nước New Zealand. Họ không có nhiều quyền chọn lựa. Họ chỉ có niềm tin rằng mình đang làm điều đúng, và bổn phận là phải đi.
Nhưng bi kịch thật sự, như ông nói, không chỉ nằm ở chiến trường.
Nó còn bắt đầu sau khi họ sống sót trở về.
Từ cuối thập niên 1960, tương tư như các quốc gia có gởi quân tham chiến, xã hội New Zealand bị chia rẽ sâu sắc bởi phong trào phản chiến. Dưới ảnh hưởng của phong trào này, Chiến tranh Việt Nam ngày càng bị nhìn như một sai lầm chính trị và đạo đức.
Trong làn sóng ấy, cũng như tại Hoa Kỳ, nhiều người lính khi trở về không được chào đón, không được vinh danh, thậm chí còn bị xa lánh. Sự phẫn nộ dành cho chính sách và cho chiến tranh đã vô tình trút cả lên vai những người lính – những con người chỉ làm tròn bổn phận của mình.
Vì thế, những người như ông Peter Anderson phải mang theo mình hai vết thương: một từ chiến trường xa xôi, nơi một số đồng đội đã vĩnh viễn ra đi; và một từ chính trên quê hương mình.
Rời xe bus, chúng tôi một lần nữa cám ơn ông và trao đổi thông tin liên lạc, như một lời hẹn còn bỏ ngỏ.
Sau khi chuyến tham quan Timaru kết thúc, theo thói quen, chúng tôi ghé vào một quán bar để uống vài ly bia địa phương. Rồi một ý nghĩ chợt đến: mời ông cùng tham gia. Khi nhận được điện thoại, ông vui hẳn lên. Chúng tôi nhờ ông mời thêm các cựu chiến binh từng tham gia Chiến tranh Việt Nam. Ông bảo ở Timaru chỉ còn khoảng ba người, nhưng họ hoặc không có nhà, hoặc ở xa.
Chỉ mười lăm phút sau, ông xuất hiện – gương mặt hớn hở, đi cùng một người phụ nữ lớn tuổi, có khuôn mặt hiền từ. Ông giới thiệu đó là vợ ông, bà Linda Mary Anderson. Ông nói, ông muốn bà cùng đi để chia sẻ niềm vui hôm nay, và cũng để bà lái xe đưa ông về sau khi ông uống bia.
Nhờ cuộc gặp gỡ bất ngờ ấy, chúng tôi có dịp trò chuyện nhiều hơn. Ông tâm sự rất chân thành về gia đình. Được biết hai ông bà cũng có một người con trai hiện cũng theo gương cha, đang phục vụ trong Không quân New Zealand. Ông cho chúng tôi xem tấm hình cũ của ông chụp trong thời gian tham chiến tại Việt Nam. Dường như đó không chỉ là hình ảnh, mà là một cánh cửa được mở ra, để ông chạm lại vào một quá khứ luôn hằn sâu trong tâm khảm – một nỗi đau chưa bao giờ thật sự ngủ yên.
Chúng tôi trò chuyện rôm rả. Ông cười nhiều, nụ cười thật tươi và nhẹ nhõm. Bà, với giọng nhỏ nhẹ, nói rằng hôm nay bà thấy ông vui khác lạ – một niềm vui chứa đựng sự xúc động mà suốt 55 năm chung sống, bà chưa từng thấy nơi ông.
Về phần chúng tôi, tận sâu trong lòng mình, chúng tôi cũng vui mừng không kém. Bởi chúng tôi đã có dịp nói lên lòng tri ân, trong tư cách là những người con của Miền Nam Việt Nam. Sống tại Hoa Kỳ gần nửa thế kỷ, gặp gỡ và tiếp xúc với nhiều cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam, chúng tôi hiểu rất rõ tâm trạng của họ. Và cũng vì lẽ đó, chúng tôi luôn trân trọng và biết ơn những hy sinh của họ – để thế hệ chúng tôi đã có những năm tháng được sống trong tự do, được đến trường học hành.
Chúng tôi và ông như cùng hòa vào một nhịp suy nghĩ, một nỗi tiếc nuối chung. Ông nói rằng, khi hay tin Miền Nam thất thủ, giữa nỗi buồn bị chính đất nước mình quay lưng với sự hy sinh của ông và đồng đội, một cảm giác chua chát ập đến. Nỗi đau ấy càng quặn thắt hơn khi ông nghĩ rằng, có lẽ sự hy sinh ấy đã trở nên vô ích.
Cuộc chuyện trò đầy tình thân rồi cũng phải khép lại, vì chúng tôi đến giờ trở về tàu. Trước lúc chia tay, chúng tôi kể cho ông nghe về dự án xây dựng Tượng đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt–Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam tại thành phố Springboro – nơi sẽ có cờ của New Zealand và các nước đồng minh từng tham chiến tung bay.
Khi nghe dự kiến tượng đài sẽ khánh thành vào tháng 11 năm nay, mắt ông lại ánh lên một niềm vui, như thể một sự trùng hợp mang màu sắc định mệnh. Tháng sinh nhật của ông cũng là tháng 11.
Ông nói sẽ cố gắng sắp xếp để tham dự. Chúng tôi hứa sẽ lo vé máy bay cho hai ông bà, như một món quà sinh nhật dành cho ông.
Trước khi chia tay, chúng tôi cùng chụp hình làm kỷ niệm. Ông nói rằng ông sẽ vô cùng tự hào khi kể lại cuộc hội ngộ hôm nay với Hội Cựu Chiến Binh Chiến tranh Việt Nam của New Zealand.
Chúng tôi rời nhau trong bịn rịn, trong tiếc nuối, và không khỏi ray rứt khi nghĩ về những gì mà mỗi người chúng tôi và ông đã phải trải qua – trong chiến tranh, và cả những chịu đựng lặng lẽ sau khi chiến tranh chấm dứt.
Tôi viết vội bài này khi cảm xúc của cuộc hội ngộ vẫn còn đầy ắp, để ghi lại – trước hết – cho các thế hệ mai sau biết rằng: đã từng có những con người, đến từ một đất nước ở tận cực Nam của Trái Đất, có tên là New Zealand (trước năm 1975, người Việt gọi là Tân Tây Lan), tuy không cùng ngôn ngữ, không cùng màu da, nhưng đã rời quê hương mình để sang chiến đấu cho tự do của Miền Nam Việt Nam.
Họ không đến như những người chinh phục. Họ đến như những người lính, mang theo niềm tin vào bổn phận, vào tự do, và vào lời hứa của đồng minh.
Và nhiều người trong số họ đã hy sinh mạng sống trong cuộc chiến.
Hoặc nếu sống sót trở về, thì phải âm thầm mang theo nỗi đau không được thấu hiểu, không được đón nhận, suốt phần đời còn lại.
Bài viết này cũng là lời tri ân chân thành gửi đến tất cả các cựu chiến binh New Zealand đã từng tham gia Chiến tranh Việt Nam – qua câu chuyện của một con người cụ thể, mà chúng tôi có cơ duyên được gặp gỡ nơi thị trấn Timaru yên bình.
Bài viết cũng được chuyển ngữ sang tiếng Anh, để ông Anderson và đồng đội của ông đọc và biết rằng những hy sinh của họ vẫn còn được chúng ta ghi nhớ và trân trọng.
⸻------------------
An Unforgettable Encounter
I originally planned to continue writing and sharing with friends the places I visited on this journey, following the timeline of the trip. Yet there are moments that cannot wait. There are encounters which, if not written down immediately, leave one’s heart unsettled. And so, I set aside the flow of the journey to recount an unforgettable encounter between Mr. Peter Anderson and our group, which took place yesterday in Timaru.
Yes—unforgettable. For it was a meeting both unexpected and deeply moving, as if it were not entirely by chance, but rather gently arranged by a providence from above.
⸻--------------
Yesterday, on a sightseeing bus tour around the town of Timaru, our guide was a former New Zealand serviceman, now nearly 80 years old. Mr. Peter Anderson is not a professional tour guide. He is a volunteer who accompanies the bus to introduce local places of interest and to help raise funds for the church. Everything about him reflects a quiet humility—much like his life itself, with thoughts and emotions he has kept to himself for many decades.
The encounter began when he noticed a shirt worn by one of us, bearing a map of Vietnam with the HS–TS islands. He said he immediately knew where we were from. As we continued talking and learned that he had served in the Vietnam War, we thanked him for fighting to defend the freedom of South Vietnam.
He paused.
His aged eyes suddenly filled with tears.
His eyes alone told us that those words of thanks had touched a pain that had quietly lingered for more than half a century.
Born in 1947, he was deployed to Vietnam in 1969, serving for one full year. At that time, he and his comrades were very young men, sent to war by military orders and the call of their country, New Zealand. They had little choice. They carried only the belief that they were doing what was right, and that duty required them to go.
But the true tragedy, as he told us, did not lie only on the battlefield.
It began after they survived and returned home.
From the late 1960s onward, New Zealand society was deeply divided by the anti-war movement. Under its influence, the Vietnam War increasingly came to be seen as a political and moral mistake. In that climate—much like in the United States—many returning soldiers were not welcomed, not honored, and in some cases even shunned. Anger toward government policy and the war itself was unjustly placed upon the soldiers—men who had simply fulfilled their duty.
Thus, people like Peter Anderson carried two wounds:
one from a distant battlefield, where some of their comrades never returned;
and another from their own homeland.
As we stepped off the bus, we thanked him once more and exchanged contact information, leaving an open promise to stay in touch.
After the tour ended, as was our habit, we stopped at a local bar for a few glasses of beer. Then a thought came to us: to invite him to join us. When he received the call, his joy was immediate. We asked if he could invite other Vietnam War veterans. He told us that there were only about three left in Timaru, but at that time they were either away or lived too far.
Just fifteen minutes later, he arrived—his face bright with happiness—accompanied by an elderly woman with a gentle expression. He introduced her as his wife, Mrs. Linda Mary Anderson. He said he wanted her to come along to share in his joy, and also to drive him home afterward.
Thanks to that unexpected meeting, we had the chance to talk more deeply. He spoke candidly about his family. We learned that their son, following his father’s path, is currently serving in the Royal New Zealand Air Force. He showed us an old photograph of himself taken during his time in Vietnam. It felt as though a door had been opened—allowing him to touch once more a past deeply etched in his soul, a pain that had never truly fallen asleep.
Our conversation flowed easily. He smiled often—a light, genuine smile. In a soft voice, his wife remarked that she had never seen him so joyful, nor so deeply moved, in their 55 years of marriage.
As for us, we too felt a profound joy. For we had been given the chance to express our gratitude, as children of South Vietnam. Having lived in the United States for nearly half a century and having met many Vietnam War veterans, we understand well the emotional burdens they carry. And for that reason, we hold deep respect and appreciation for their sacrifices—sacrifices that allowed our generation to grow up in freedom and to pursue education.
We found ourselves sharing a common feeling of regret and reflection. He told us that when he learned of the fall of South Vietnam, amid the pain of feeling that his own country had turned its back on the sacrifices made by him and his comrades, a deep bitterness set in. That pain grew sharper with the thought that perhaps their sacrifices had been in vain.
Our warm conversation eventually came to an end as we had to return to our ship. Before parting, we told him about the Vietnam–American Veterans Memorial project in Springboro—a memorial where the flags of New Zealand and other allied nations that fought in the war will fly. When he heard that the dedication is planned for this coming November, his eyes lit up once again, as if by a meaningful coincidence. November is also his birth month.
He said he would do his best to attend. We promised to take care of airfare for both him and his wife, as a birthday gift for him.
Before saying goodbye, we took photographs together. He said he would be very proud to share this encounter with the New Zealand Vietnam Veterans’ community.
We parted with lingering emotion and regret, reflecting on all that each of us—and he—had endured: during the war, and in the quiet suffering that followed its end.
I write this piece while the emotions of that encounter are still vivid, to leave a record—above all—for future generations to know that there were people from a country at the far southern edge of the Earth, called New Zealand (known to Vietnamese before 1975 as Tan Tay Lan), who, though different in language and appearance, left their homeland to fight for the freedom of South Vietnam.
They did not come as conquerors.
They came as soldiers, guided by duty, by faith in freedom, and by the promise made to an ally.
Many of them lost their lives in that war. Others survived, only to carry—silently and for the rest of their lives—the pain of being misunderstood and unacknowledged.
This article is offered as a heartfelt tribute to all New Zealand veterans of the Vietnam War, through the story of one man whom we were fortunate to meet in the peaceful town of Timaru.
It has been translated into English so that Mr. Anderson and his comrades may know that their sacrifices are remembered and deeply respected.
Timaru, New Zealand
Feb 6, 2026
Tóm lược Hải chiến Hoàng Sa, 19/01/1974.
Có lẽ chúng ta không ai không biết đến diễn tiến của cuộc hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Đã có nhiều tài liệu và sách vở nói về sự kiện này. Nhưng trong bài viết này, tác giả vẫn phải tóm lược lại những điều mà mình được nghe, được đọc để người đọc có thể thấy được những điều quan trọng của trận đánh. Đồng thời thấy được sự anh hùng của những người lính hải quân VNCH đã “vị quốc, vong thân” và không bao giờ quên “Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm”.
Từ cuối năm 1973, lợi dụng việc VNCH đang phải đối đầu với cộng sản Việt Nam trên bộ thì Trung Cộng đã có nhiều động thái muốn xâm lược Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mặc cho VNCH đã nhiều năm xác lập chủ quyền chính đáng trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.
Trước thái độ Hải quân Trung cộng hung hăng lấn sát biển Hoàng Sa khiêu khích Hải Quân VNCH, Chính phủ VNCH đã đánh ngay giặc Tàu trên biển Hoàng Sa theo tinh thần của tiền nhân Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo vv…
Dựa trên Hồi ký của các cựu Hạm trưởng Vũ Hữu San và Lê Văn Thự đều cho biết tàu Việt Nam Cộng Hòa khai hoả bắn vào tàu Trung cộng xâm lược.
Ông Lê Văn Thự, cựu Hạm trưởng HQ16, nhớ lại: “ Chiều ngày 18/1/1974, khoảng 6 giờ, đại tá Ngạc gọi máy cho tôi và ra lệnh cho tôi chỉ huy HQ10, bằng mọi giá phải đổ bộ cho được toán người nhái lên đảo Quang Hòa… Đến tối ngày 18/1/1974, máy truyền tin bị Trung Cộng phá rối tần số, không liên lạc được. Tôi không thể gọi đại tá Ngạc, HQ 4 hay Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên Hải. Tôi chỉ liên lạc được với HQ 10 bằng máy PRC 45 là loại máy truyền tin mang sau lưng, chỉ liên lạc được trong vòng 10 hải lý.
Sau khi nhận lệnh, tôi nghĩ chỉ còn cách đổ bộ toán người nhái vào ban đêm may ra mới lên được đảo; nhưng chưa chắc toán người nhái đã vào trót lọt được vì có thể tàu Trung Cộng theo dõi và liên lạc chỉ điểm cho người của họ chốt trên đảo canh chừng để bắn khi người nhái của ta vào bờ… Vì thế, muốn thi hành lệnh của đại tá Ngạc, tôi nghĩ chỉ còn cách là phải tiêu diệt tàu Trung Cộng trước rồi mới tính chuyện đổ bộ người nhái lên đảo sau”.
Ông Thự kể rằng lúc này phía Trung cộng điều thêm hai tàu nữa. Ông liền gọi cho thiếu tá Ngụy Văn Thà, Hạm trưởng HQ10, để bàn kế hoạch. Theo đó, HQ10 và HQ16 sẽ rời xa các đảo trong đêm, tắt hết đèn thắp sáng trên tàu để địch không nhìn thấy mục tiêu; vào sáng sớm sẽ tiến vào vùng lòng chảo bên trong cụm đảo Lưỡi Liềm để tấn công chiến hạm Trung cộng.
Sáng sớm 19/1/1974, các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa tiến vào vùng lòng chảo giữa cụm đảo. Theo hồi ức của Hạm trưởng San, lúc bấy giờ bốn tàu chiến của Trung cộng mang các số hiệu 389, 396, 271 và 274 xông ra nghênh chiến. Lúc 6 giờ 48 phút, lực lượng đổ bộ bắt đầu được khai triển: toán Biệt hải trên HQ 4 đổ bộ mặt nam đảo Quang Hòa, toán Hải kích trên HQ 5 đổ bộ mặt tây nam đảo. Khi tiến vào đảo, họ đã bị quân Tàu núp trong công sự bắn ra. Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đáp trả bằng súng phóng lựu M.79 và tiểu liên M.16.
Cuộc cận chiến trên đảo khiến trung úy Lê Văn Đơn và một thành viên tên là Long của toán Hải kích tử trận, 2 thành viên khác bị thương. Toán Biệt hải cũng bị lực lượng Trung cộng khá đông uy hiếp. Đến khoảng 9 giờ 30, trước tình hình bất lợi, các lực lượng đổ bộ rút về tàu, mang theo những người bị thương và thi thể người tử trận. Như vậy, nỗ lực đổ bộ giành lại quyền kiểm soát tại đảo Quang Hòa của Việt Nam Cộng Hòa đã không hoàn thành.
Cũng theo tường thuật trong sách của cựu Hạm trưởng Vũ Hữu San và tác giả Trần Đỗ Cẩm, từ 10 giờ 17 cho tới 10 giờ 24, các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa di chuyển chiến thuật để lập một vòng cung phía tây đảo Quang Hòa. Phân đội bắc gồm HQ16 và HQ10 di chuyển tới hướng tây bắc đảo Quang Hoà, phân đội nam gồm HQ 5 và HQ 4 di chuyển tới phía tây đảo. Bốn tàu Trung cộng liền bám theo sau.
Trận hải chiến chính thức khởi sự vào lúc 10 giờ 22 phút sáng 19/1/ Theo Hạm trưởng Vũ Hữu San, sau khi mệnh lệnh tác xạ của đại tá Hà Văn Ngạc được truyền đi từ trung tâm chỉ huy đặt trên HQ 5, tất cả các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa đồng loạt nổ súng vào tàu hải quân Trung cộng.
“Lúc bấy giờ, tôi đứng trên đài chỉ huy với Hạm trưởng San, nghe có lệnh bắn truyền xuống, ông hạm trưởng hét: ‘bắn!’ Đồng thời ổng điều chiếc tàu chạy quanh quanh để tránh đạn. Ngay thời khắc đầu tiên, do bị bất ngờ nên quân Trung cộng thiệt hại nặng”, 40 năm sau cuộc chiến, ông Lữ Công Bảy, hạ sĩ quan giám lộ tàu HQ 4, kể lại.
Do mục tiêu nằm trong tầm bắn nên các loại súng pháo 20 ly và 40 ly bắn rất hiệu quả, theo sách Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa của Vũ Hữu San và Trần Đỗ Cẩm. Về hải pháo, các khẩu 76 ly của HQ 4 và 127 ly của HQ 5, HQ 16 có tốc độ bắn chậm hơn trong khi tàu Trung cộng nhỏ bé và di chuyển rất linh động thành ra rất khó ngắm trúng mục tiêu. Trong các chiến hạm của Việt Nam Cộng Hòa, chỉ có hải pháo của HQ 4 là điều khiển bằng điện; còn lại đều là hệ thống quay tay khá cổ điển nên việc “bắt chết mục tiêu” gặp nhiều trở ngại. HQ 10 là chiến hạm nhỏ nhất và chỉ còn một máy chính hoạt động nên xoay trở rất khó, giàn ra đa lại bị hỏng nên bị rơi vào nguy khốn.
“Lúc đó chính mắt tôi thấy rõ ràng chiếc tàu bên trái của Trung cộng bị dính đạn. Một cụm lửa bùng lên rất to. Chiếc tàu mất hẳn trên màn hình ra đa. Có lẽ nó chìm tại đó luôn. Chiếc còn lại thì đâm đầu vô đảo chứ không dám rượt theo mình” , ông Bảy kể. Nhưng phía Việt Nam Cộng Hòa cũng chịu tổn thất không ít. Chỉ khoảng sau 10 phút tham chiến, HQ 10 đã bị loại khỏi vòng chiến.
“Qua bộ đàm, bạn tôi là Vương Thương báo cáo HQ 10 trúng hai phát đạn pháo của Trung cộng, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử trận và hạm phó bị thương. Anh em trên đài chỉ huy HQ 10 toàn bộ đều bị thương hoặc chết. Sau đó thì không thể liên lạc được nữa, chắc bên đó không còn ai giữ truyền tin liên lạc”.
Ba chiếc tàu còn lại của Việt Nam Cộng Hòa cũng bị dính đạn Trung cộng, trong đó nghiêm trọng nhất là HQ16 bị trúng một quả đại bác vào hầm máy phải, nước tràn vào khiến tàu nghiêng hẳn. Lúc bấy giờ, do Trung cộng phá sóng truyền tin tầm xa, nên việc liên lạc giữa tàu và Đà Nẵng là bất khả thi. Các tàu chỉ có thể liên lạc với nhau bằng PRC25 khi ở khoảng cách ngắn hơn.
Sau hơn 30 phút kể từ khi tàu Hải quân Việt Nam Cộng Hòa khai hỏa đánh Hải quân Trung cộng, tình trạng lúc này là phía Việt Nam Cộng Hòa có một tàu bị bắn cháy, nhiều chiến sĩ tử trận hoặc bị thương. Chiến hạm HQ16 và HQ5 hư hại khá nặng, HQ4 cũng dính đạn nhưng còn hoạt động được. Phía Trung cộng có một tàu bị bắn cháy, phần lớn các tàu còn lại hư hại nặng nề, tổn thất về quân lính thì phía hải quân Trung cộng không thể kể cho hết.
Theo tài liệu Hoàng Sa, Lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa của chính phủ VNCH cũng như hồi ký của cựu Hạm trưởng HQ 4 Vũ Hữu San, đại tá Hà Văn Ngạc, chỉ huy trưởng chiến dịch trên biển, và một số chiến sĩ tham dự trận hải chiến cho hay trận hải chiến kết thúc vào lúc khoảng 11 giờ trưa 19/1/1974. Khi đó thì hải quân Trung cộng đang gửi thêm tàu tiếp viện, gồm tàu chiến cao tốc Komar trang bị hỏa tiễn mua của Liên Xô trước đó. Trước tình huống vũ khí VNCH yếu thế hơn và phía Hoa Kỳ với hạm đội 7 đang trú đóng gần đó không hề có bất cứ động thái yểm trợ nào, bất lợi về phía Việt Nam Cộng Hòa. Chính phủ VNCH đã ra lệnh triệt thoái các tàu còn lại về Đà Nẵng. Toàn bộ quần đảo Hoàng Sa rơi vào tay giặc Tàu cộng, trưa ngày 19/1/1974.
Mặc dù kết thúc cuộc hải chiến , quân lực VNCH nói chung và hải quân VNCH nói riêng đã mất đi một số người lính anh hùng. Sự chênh lệch về lực lượng và phương tiện đã không cho phép những người lính VNCH có thể chiến thắng trước đối thủ hung hãn, hơn hẳn về phương tiện vũ khí và được yểm trợ tối đa. Nhưng đổi lại, tinh thần chiến đấu của họ đã còn lưu lại mãi mãi trong lòng người dân Việt Nam cho đến muôn đời. Họ đã làm cho phía Trung Cộng thiệt hại nặng nề cả về vũ khí lẫn quân lính. Những người anh hùng đã chiến đấu trong trận hải chiến ngày 19/01/1974 xứng đáng được vinh thăng và trân trọng. Một trong số Họ đã anh dũng ở lại Hoàng Sa !
2.Việt Nam Cộng Hòa phản đối Trung Cộng, Cộng sản Việt Nam hân hoan chúc mừng giặc
Sau sự hi sinh anh dũng của hạm trưởng Ngụy Văn Thà và đồng đội thì chính quyền VNCH đã lên tiếng một cách mạnh mẽ những hành động ăn cướp của Trung Cộng. Điều này cũng minh chứng rằng một khi để nói là VNCH là tay sai của Mỹ, là bán nước, là Ngụy quân, ngụy quyền thì phải có bằng chứng rõ ràng. Một điều chúng ta có thể thấy rõ ràng tại sao một chế độ bị vu cáo là “ngụy” lại anh dũng chống trả quân thù Trung cộng cướp nước còn CHXHCNVN lại “tri ân” giặc Tầu như cách mà Phùng Quang Thanh, Nguyễn Tấn Dũng hay Nguyễn Phú Trọng và cả bè lũ cộng sản đang ngày đêm ca ngợi, để mặc ngư dân bị đánh đập ngay trên biển đảo quê hương mình?
Ai là “Ngụy” thì có lẽ thực chất bạn đọc cũng tự tìm cho mình câu trả lời rồi.
Những bức ảnh này là minh chứng hùng hồn nhất thay cho cả vạn lời nói ai mới thật sự là “ngụy” bán nước cho giặc Tầu:
Trái ngược lại với chính phủ VNCH và những người lính VNCH đã anh dũng bảo vệ biển đảo quê hương thì những kẻ tự nhận mình là “thống nhất, giải phóng” đất nước lại ngang nhiên bán biển đảo cho giặc.
Cần phải nhớ lại một chuỗi lịch sử bán HS-TS của CSVN như sau. Ngay sau khi tuyên bố của Trung cộng về việc HS- TS là của Trung Cộng thì Phạm Văn Đồng lúc đó là thủ tướng Việt Nam Dân Chủ cộng hòa (VNDCCH) thừa lệnh Hồ Chí Minh (Xem: “Những sự thật không thể chối bỏ” – Phần 2) đã tiến hành việc đưa ra công hàm ký ngày 14/9/1958. Công hàm này có nội dung như sau:
* ↓ Coi thêm hình và đầy đủ chi tiết tại Website ↓
Tin Sydney
Cuộc Gây Quỹ Trái Phép Bị Hội Đồng Thành Phố Hủy Bỏ
Vào trưa ngày 13/01/2025, theo bản văn thư chính thức của bà Betty Arascue Watanabe (Điều Hợp Viên Lễ Hội Các Sự Kiện đặc trách vủng Cabramatta) đã cho giới truyền thông được biết: Hội Đồng Thành Phố Fairfield đã chính thức hủy bỏ sự kiện “Xuống Đường Lắc Lon” của Hội Thân Hữu Thương Phế Binh do ông Lê Đá đứng ra tổ chức
Tưởng cũng cần nhắc lại, theo sau các loạt bài viết gần đây xuất hiện trên các trang Facebook cho rằng: Hội Thân Hữu Thương Phế Binh do ông Lê Đá chủ xướng đã không có đầy đủ các giấy tờ căn bản của Chính Phủ yêu cầu, dành cho một Tổ Chức Gây Quỹ Từ Thiện bắt buộc phải có, cho mỗi khi xuống đường lắc lon hoặc gây quỹ một cách công khai.
Khi giới chức có thẩm quyền của Hội Đồng Thành Phố Fairfield liên hệ và yêu cầu ông Lê Đá cung cấp những giấy tờ thiết yếu cho một cuộc lạc quyên cần phải có, thì ông Lê Đá không đủ khả năng để cung cấp những văn thư này, vì thế Hội Đồng Thành Phố Fairfield buộc lòng phải hủy bỏ cuộc lạc quyên không hợp pháp này.
Ông Lê Đá cũng đã chấp nhận việc hủy bỏ trên. Trong khi ấy, Nhân viên Hội Đồng Thành Phố Fairfield cũng tái xác nhận rằng, trong tương lai họ sẽ kiểm duyệt một cách kỹ lưỡng hơn, và điều này đang dấy lên một nguồn dư luận hiện nay cho rằng:
Nếu Hội Thân Hữu Thương Phế Binh do ông Lê Đá chủ xướng đã rút lui trước yêu cầu của Hội Đồng Thành Phố Fairfield, vậy thì các cuộc lạc quyên công khai và bán công khai của Hội Thân Hữu Thương Phế Binh trước đây, liệu rằng có hợp pháp hay không ? Và trong tương lai sẽ còn tiếp tục khi Hội này chưa có được giấy tờ căn bản để gây quỹ hay không?
Chiếu theo điều luật Charitable Fundraising Act 1991 No 69 - NSW Legislation. Những ai gây quỹ bất hợp pháp, thì mức phạt vạ có thể lên đến $22 ngàn Úc kim, và mức án tù có thể lên đến 2 năm tù giam.
Tuy nhiên, về mức hồi tố chúng tôi cần phải kiểm chứng lại, cũng như những người đã biết về một Hội, với những hoạt động trái phép trong việc lạc quyên, nhưng vẫn tiếp tục ủng hộ vì cả nể, hoặc vì muốn duy trì mối quan hệ, thì liệu rằng có bị vạ lây hay không ?
Chúng tôi sẽ cập nhật về các cuộc gây quỹ của Hội Thân Hữu Thương Phế Binh tại các địa điểm khác đến cùng quí vị trong tương lai.
Tôi là nhân chứng. Nhiều lần tôi đã dùng chính đồng tiền lao động cực khổ của mình để ủng hộ nhóm này tại Hội chợ Tết.Tôi cũng đã từng bỏ tiền ủng hộ không ít, vì tôi tin rằng việc mình làm là đúng và sẽ đến được đúng người cần giúp; vào thùng quyên góp mỗi khi ca sĩ Huyền Lưu làm MC kêu gọi đóng góp, vì tôi tin tưởng và quý mến những người nghệ sĩ, người mẫu mà tôi luôn trân trọng.
Không chỉ vậy, hơn hai thùng sách “The Legacy of the Vietnamese Boat People” — hiện đang bán trên Amazon khoảng $45 một quyển — do anh Lê Quang Vinh tự bỏ tiền túi để xuất bản cũng đã được tặng cho nhóm này.
Chúng tôi tin rằng đây là hội Thương Phế Binh tại NSW; nếu bán được sách thì số tiền và những món quà đó sẽ thật sự đến tay các thương phế binh đang sống thiếu thốn ở quê nhà...
Nhưng tôi đã lầm!
Đến hôm nay, tôi hoàn toàn thất vọng vì không biết số tiền đó đã đi đâu, có được chuyển đúng nơi hay không. Chuyển qua hội đoàn từ thiện nào hay chỉ đến tay thân nhân hoặc cá nhân nào đó?
Không ai trả lời! Điều khiến tôi đau lòng nhất là có người nói với tôi rằng:
Anh có ủng hộ hay không thì cũng chẳng ai biết đâu. Người ta chỉ nói người nào "xung phong đi lượm tiền" thôi.
Một câu nói đủ để tôi hiểu rằng:
Khi không có minh bạch, thì người đóng góp không bao giờ biết giá trị thiện nguyện của mình được nằm chỗ nào, được sử dụng ra sao?
Càng buồn hơn khi thay vì giải thích minh bạch, một số người lại chọn cách công kích cá nhân, dùng những lời lẽ xúc phạm để né tránh câu hỏi chính đáng của cộng đồng.
Nhưng sự thật thì vẫn là sự thật:
Sự đóng góp của tôi bị thay thế bằng lời chửi bới.