08 February 2026
Video tin tức & Một cuộc hội ngộ hy hữu và cảm động
Một cuộc hội ngộ hy hữu và cảm động
Tôi vốn dự định sẽ tiếp tục viết và chia sẻ cùng bạn bè những nơi mình đi qua trong chuyến du lịch lần này theo trình tự thời gian. Thế nhưng, có những khoảnh khắc không thể chờ đợi. Có những cuộc gặp, nếu không được kể ra ngay, thì chính lòng mình cũng thấy thôi thúc và cả day dứt. Và vì thế, tôi xin được tạm gác lại dòng hành trình, để kể về cuộc hội ngộ kỳ thú giữa ông Peter Anderson và chúng tôi, xảy ra hôm qua tại Timaru.
Vâng, kỳ thú – bởi quả thật đó là một cuộc gặp gỡ vừa kỳ lạ, vừa xúc động, như thể không hoàn toàn là ngẫu nhiên, mà có phần được sắp đặt bởi một cơ duyên nào đó từ Trời cao.
⸻-------
Hôm qua, trên chuyến xe bus đi tìm hiểu quanh thị trấn Timaru, người hướng dẫn tour của chúng tôi là một cựu quân nhân New Zealand, nay đã gần 80 tuổi. Ông Peter Anderson không phải là một hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp. Ông chỉ là một người làm thiện nguyện, theo xe bus để giới thiệu đôi điều về địa phương và giúp gây quỹ cho nhà thờ. Mọi cử chỉ của ông đều toát lên sự lặng lẽ, khiêm nhường – như chính cuộc đời ông, với những tâm sự thầm kín được giữ lại cho riêng mình suốt nhiều thập niên.
Cuộc hội ngộ bắt đầu khi ông nhìn thấy chiếc áo HS–TS với bản đồ Việt Nam do một người trong nhóm chúng tôi mặc. Ông nói rằng ông biết chúng tôi đến từ đâu. Chúng tôi gợi chuyện, và khi biết ông từng tham gia Chiến tranh Việt Nam, chúng tôi ngỏ lời cám ơn ông vì đã chiến đấu để bảo vệ tự do cho Miền Nam Việt Nam.
Ông sững lại.
Đôi mắt già nua bỗng ngấn lệ.
Ánh mắt ông nói cho biết lời cám ơn ấy đã chạm đúng vào một nỗi đau vẫn âm ỉ suốt hơn nửa thế kỷ.
Ông sinh năm 1947, được điều động sang Việt Nam năm 1969, phục vụ tròn một năm. Khi ấy, ông và những người đồng đội chỉ là những chàng trai rất trẻ, đi vào chiến tranh theo lệnh điều động của quân đội và tiếng gọi của đất nước New Zealand. Họ không có nhiều quyền chọn lựa. Họ chỉ có niềm tin rằng mình đang làm điều đúng, và bổn phận là phải đi.
Nhưng bi kịch thật sự, như ông nói, không chỉ nằm ở chiến trường.
Nó còn bắt đầu sau khi họ sống sót trở về.
Từ cuối thập niên 1960, tương tư như các quốc gia có gởi quân tham chiến, xã hội New Zealand bị chia rẽ sâu sắc bởi phong trào phản chiến. Dưới ảnh hưởng của phong trào này, Chiến tranh Việt Nam ngày càng bị nhìn như một sai lầm chính trị và đạo đức.
Trong làn sóng ấy, cũng như tại Hoa Kỳ, nhiều người lính khi trở về không được chào đón, không được vinh danh, thậm chí còn bị xa lánh. Sự phẫn nộ dành cho chính sách và cho chiến tranh đã vô tình trút cả lên vai những người lính – những con người chỉ làm tròn bổn phận của mình.
Vì thế, những người như ông Peter Anderson phải mang theo mình hai vết thương: một từ chiến trường xa xôi, nơi một số đồng đội đã vĩnh viễn ra đi; và một từ chính trên quê hương mình.
Rời xe bus, chúng tôi một lần nữa cám ơn ông và trao đổi thông tin liên lạc, như một lời hẹn còn bỏ ngỏ.
Sau khi chuyến tham quan Timaru kết thúc, theo thói quen, chúng tôi ghé vào một quán bar để uống vài ly bia địa phương. Rồi một ý nghĩ chợt đến: mời ông cùng tham gia. Khi nhận được điện thoại, ông vui hẳn lên. Chúng tôi nhờ ông mời thêm các cựu chiến binh từng tham gia Chiến tranh Việt Nam. Ông bảo ở Timaru chỉ còn khoảng ba người, nhưng họ hoặc không có nhà, hoặc ở xa.
Chỉ mười lăm phút sau, ông xuất hiện – gương mặt hớn hở, đi cùng một người phụ nữ lớn tuổi, có khuôn mặt hiền từ. Ông giới thiệu đó là vợ ông, bà Linda Mary Anderson. Ông nói, ông muốn bà cùng đi để chia sẻ niềm vui hôm nay, và cũng để bà lái xe đưa ông về sau khi ông uống bia.
Nhờ cuộc gặp gỡ bất ngờ ấy, chúng tôi có dịp trò chuyện nhiều hơn. Ông tâm sự rất chân thành về gia đình. Được biết hai ông bà cũng có một người con trai hiện cũng theo gương cha, đang phục vụ trong Không quân New Zealand. Ông cho chúng tôi xem tấm hình cũ của ông chụp trong thời gian tham chiến tại Việt Nam. Dường như đó không chỉ là hình ảnh, mà là một cánh cửa được mở ra, để ông chạm lại vào một quá khứ luôn hằn sâu trong tâm khảm – một nỗi đau chưa bao giờ thật sự ngủ yên.
Chúng tôi trò chuyện rôm rả. Ông cười nhiều, nụ cười thật tươi và nhẹ nhõm. Bà, với giọng nhỏ nhẹ, nói rằng hôm nay bà thấy ông vui khác lạ – một niềm vui chứa đựng sự xúc động mà suốt 55 năm chung sống, bà chưa từng thấy nơi ông.
Về phần chúng tôi, tận sâu trong lòng mình, chúng tôi cũng vui mừng không kém. Bởi chúng tôi đã có dịp nói lên lòng tri ân, trong tư cách là những người con của Miền Nam Việt Nam. Sống tại Hoa Kỳ gần nửa thế kỷ, gặp gỡ và tiếp xúc với nhiều cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam, chúng tôi hiểu rất rõ tâm trạng của họ. Và cũng vì lẽ đó, chúng tôi luôn trân trọng và biết ơn những hy sinh của họ – để thế hệ chúng tôi đã có những năm tháng được sống trong tự do, được đến trường học hành.
Chúng tôi và ông như cùng hòa vào một nhịp suy nghĩ, một nỗi tiếc nuối chung. Ông nói rằng, khi hay tin Miền Nam thất thủ, giữa nỗi buồn bị chính đất nước mình quay lưng với sự hy sinh của ông và đồng đội, một cảm giác chua chát ập đến. Nỗi đau ấy càng quặn thắt hơn khi ông nghĩ rằng, có lẽ sự hy sinh ấy đã trở nên vô ích.
Cuộc chuyện trò đầy tình thân rồi cũng phải khép lại, vì chúng tôi đến giờ trở về tàu. Trước lúc chia tay, chúng tôi kể cho ông nghe về dự án xây dựng Tượng đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt–Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam tại thành phố Springboro – nơi sẽ có cờ của New Zealand và các nước đồng minh từng tham chiến tung bay.
Khi nghe dự kiến tượng đài sẽ khánh thành vào tháng 11 năm nay, mắt ông lại ánh lên một niềm vui, như thể một sự trùng hợp mang màu sắc định mệnh. Tháng sinh nhật của ông cũng là tháng 11.
Ông nói sẽ cố gắng sắp xếp để tham dự. Chúng tôi hứa sẽ lo vé máy bay cho hai ông bà, như một món quà sinh nhật dành cho ông.
Trước khi chia tay, chúng tôi cùng chụp hình làm kỷ niệm. Ông nói rằng ông sẽ vô cùng tự hào khi kể lại cuộc hội ngộ hôm nay với Hội Cựu Chiến Binh Chiến tranh Việt Nam của New Zealand.
Chúng tôi rời nhau trong bịn rịn, trong tiếc nuối, và không khỏi ray rứt khi nghĩ về những gì mà mỗi người chúng tôi và ông đã phải trải qua – trong chiến tranh, và cả những chịu đựng lặng lẽ sau khi chiến tranh chấm dứt.
Tôi viết vội bài này khi cảm xúc của cuộc hội ngộ vẫn còn đầy ắp, để ghi lại – trước hết – cho các thế hệ mai sau biết rằng: đã từng có những con người, đến từ một đất nước ở tận cực Nam của Trái Đất, có tên là New Zealand (trước năm 1975, người Việt gọi là Tân Tây Lan), tuy không cùng ngôn ngữ, không cùng màu da, nhưng đã rời quê hương mình để sang chiến đấu cho tự do của Miền Nam Việt Nam.
Họ không đến như những người chinh phục. Họ đến như những người lính, mang theo niềm tin vào bổn phận, vào tự do, và vào lời hứa của đồng minh.
Và nhiều người trong số họ đã hy sinh mạng sống trong cuộc chiến.
Hoặc nếu sống sót trở về, thì phải âm thầm mang theo nỗi đau không được thấu hiểu, không được đón nhận, suốt phần đời còn lại.
Bài viết này cũng là lời tri ân chân thành gửi đến tất cả các cựu chiến binh New Zealand đã từng tham gia Chiến tranh Việt Nam – qua câu chuyện của một con người cụ thể, mà chúng tôi có cơ duyên được gặp gỡ nơi thị trấn Timaru yên bình.
Bài viết cũng được chuyển ngữ sang tiếng Anh, để ông Anderson và đồng đội của ông đọc và biết rằng những hy sinh của họ vẫn còn được chúng ta ghi nhớ và trân trọng.
⸻------------------
An Unforgettable Encounter
I originally planned to continue writing and sharing with friends the places I visited on this journey, following the timeline of the trip. Yet there are moments that cannot wait. There are encounters which, if not written down immediately, leave one’s heart unsettled. And so, I set aside the flow of the journey to recount an unforgettable encounter between Mr. Peter Anderson and our group, which took place yesterday in Timaru.
Yes—unforgettable. For it was a meeting both unexpected and deeply moving, as if it were not entirely by chance, but rather gently arranged by a providence from above.
⸻--------------
Yesterday, on a sightseeing bus tour around the town of Timaru, our guide was a former New Zealand serviceman, now nearly 80 years old. Mr. Peter Anderson is not a professional tour guide. He is a volunteer who accompanies the bus to introduce local places of interest and to help raise funds for the church. Everything about him reflects a quiet humility—much like his life itself, with thoughts and emotions he has kept to himself for many decades.
The encounter began when he noticed a shirt worn by one of us, bearing a map of Vietnam with the HS–TS islands. He said he immediately knew where we were from. As we continued talking and learned that he had served in the Vietnam War, we thanked him for fighting to defend the freedom of South Vietnam.
He paused.
His aged eyes suddenly filled with tears.
His eyes alone told us that those words of thanks had touched a pain that had quietly lingered for more than half a century.
Born in 1947, he was deployed to Vietnam in 1969, serving for one full year. At that time, he and his comrades were very young men, sent to war by military orders and the call of their country, New Zealand. They had little choice. They carried only the belief that they were doing what was right, and that duty required them to go.
But the true tragedy, as he told us, did not lie only on the battlefield.
It began after they survived and returned home.
From the late 1960s onward, New Zealand society was deeply divided by the anti-war movement. Under its influence, the Vietnam War increasingly came to be seen as a political and moral mistake. In that climate—much like in the United States—many returning soldiers were not welcomed, not honored, and in some cases even shunned. Anger toward government policy and the war itself was unjustly placed upon the soldiers—men who had simply fulfilled their duty.
Thus, people like Peter Anderson carried two wounds:
one from a distant battlefield, where some of their comrades never returned;
and another from their own homeland.
As we stepped off the bus, we thanked him once more and exchanged contact information, leaving an open promise to stay in touch.
After the tour ended, as was our habit, we stopped at a local bar for a few glasses of beer. Then a thought came to us: to invite him to join us. When he received the call, his joy was immediate. We asked if he could invite other Vietnam War veterans. He told us that there were only about three left in Timaru, but at that time they were either away or lived too far.
Just fifteen minutes later, he arrived—his face bright with happiness—accompanied by an elderly woman with a gentle expression. He introduced her as his wife, Mrs. Linda Mary Anderson. He said he wanted her to come along to share in his joy, and also to drive him home afterward.
Thanks to that unexpected meeting, we had the chance to talk more deeply. He spoke candidly about his family. We learned that their son, following his father’s path, is currently serving in the Royal New Zealand Air Force. He showed us an old photograph of himself taken during his time in Vietnam. It felt as though a door had been opened—allowing him to touch once more a past deeply etched in his soul, a pain that had never truly fallen asleep.
Our conversation flowed easily. He smiled often—a light, genuine smile. In a soft voice, his wife remarked that she had never seen him so joyful, nor so deeply moved, in their 55 years of marriage.
As for us, we too felt a profound joy. For we had been given the chance to express our gratitude, as children of South Vietnam. Having lived in the United States for nearly half a century and having met many Vietnam War veterans, we understand well the emotional burdens they carry. And for that reason, we hold deep respect and appreciation for their sacrifices—sacrifices that allowed our generation to grow up in freedom and to pursue education.
We found ourselves sharing a common feeling of regret and reflection. He told us that when he learned of the fall of South Vietnam, amid the pain of feeling that his own country had turned its back on the sacrifices made by him and his comrades, a deep bitterness set in. That pain grew sharper with the thought that perhaps their sacrifices had been in vain.
Our warm conversation eventually came to an end as we had to return to our ship. Before parting, we told him about the Vietnam–American Veterans Memorial project in Springboro—a memorial where the flags of New Zealand and other allied nations that fought in the war will fly. When he heard that the dedication is planned for this coming November, his eyes lit up once again, as if by a meaningful coincidence. November is also his birth month.
He said he would do his best to attend. We promised to take care of airfare for both him and his wife, as a birthday gift for him.
Before saying goodbye, we took photographs together. He said he would be very proud to share this encounter with the New Zealand Vietnam Veterans’ community.
We parted with lingering emotion and regret, reflecting on all that each of us—and he—had endured: during the war, and in the quiet suffering that followed its end.
I write this piece while the emotions of that encounter are still vivid, to leave a record—above all—for future generations to know that there were people from a country at the far southern edge of the Earth, called New Zealand (known to Vietnamese before 1975 as Tan Tay Lan), who, though different in language and appearance, left their homeland to fight for the freedom of South Vietnam.
They did not come as conquerors.
They came as soldiers, guided by duty, by faith in freedom, and by the promise made to an ally.
Many of them lost their lives in that war. Others survived, only to carry—silently and for the rest of their lives—the pain of being misunderstood and unacknowledged.
This article is offered as a heartfelt tribute to all New Zealand veterans of the Vietnam War, through the story of one man whom we were fortunate to meet in the peaceful town of Timaru.
It has been translated into English so that Mr. Anderson and his comrades may know that their sacrifices are remembered and deeply respected.
Timaru, New Zealand
Feb 6, 2026
* ↓ Copy on Khang Do's Facebook ↓
* 👇 CHUYỆN KỂ VỀ VƯỢT BIÊN ĐỂ TÌM TỰ DO TẠI VIETNAMESE MUSEUM:-(
Subscribe to:
Comments (Atom)





