28 February 2026

Video "Chiến dịch Montreau" tháo gỡ tượng Hồ Tặc Chí Minh trong góc nhỏ ngoại ô Paris (CSVN xin tặng Pháp)

* Quý Vị thích xem tin tức Cộng Đồng Video - Hồi ký ↓👇 xin hãy nhấn 2 ↓ hàng chữ màu đỏ ▼   
https://khangsydney2.blogspot.com/ http://www.khanghuong.blogspot.com.au/ Xin Quý Vị hãy nhấn chữ màu đỏ trên 🔺
* Quý Vị thích xem 👆Tin tức khắp nơi - Thông Báo Cộng Đồng - Sinh hoạt của Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn VC - Video & Hồi Ký xin hãy nhấn 2 hàng chữ màu đỏ ở trên ↑ 👆 👇 Video tin tức & "Chiến dịch Montreau" tháo gỡ tượng Hồ Tặc Chí Minh trong góc nhỏ ngoại ô Paris (CSVN xin tặng Pháp)👇

Thông tin về "Chiến dịch Montreau" hay các hoạt động kêu gọi tháo dỡ tượng Hồ Chí Minh tại Công viên Montreau (Parc Montreau) thành phố Montreuil ngoại ô Paris, Pháp, thường được lan truyền bởi các nhóm Cộng Đồng Vgười Việt Hải Ngoại.

 * 👇 CHUYỆN KỂ VỀ VƯỢT BIÊN ĐỂ TÌM TỰ DO TẠI VIETNAMESE MUSEUM:-(

👋👋 Cám ơn Quý Vị đến với Tin tức Trung Thực Blogspot. 🙏🙏 Cầu chúc Quý Vị dồi dào sức khỏe 🙏🙏

▼ * Nhấn chữ Older Posts để xem các bài đã đăng trước & Nhấn chữ Home trở về bài mới!

21 February 2026

Video tin tức & THƠ NHẠC CỦA CỐ CHIẾN SĨ VÕ ĐẠI TÔN. Vua Quang Trung Đã ĐÁNH TAN 29 Vạn Quân Thanh

* Quý Vị thích xem tin tức Cộng Đồng Video - Hồi ký ↓👇 xin hãy nhấn 2 ↓ hàng chữ màu đỏ ▼   
https://khangsydney2.blogspot.com/ http://www.khanghuong.blogspot.com.au/ Xin Quý Vị hãy nhấn chữ màu đỏ trên 🔺
* Quý Vị thích xem 👆Tin tức khắp nơi - Thông Báo Cộng Đồng - Sinh hoạt của Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn VC - Video & Hồi Ký xin hãy nhấn 2 hàng chữ màu đỏ ở trên ↑ 👆 👇 Video tin tức & THƠ NHẠC CỦA CỐ CHIẾN SĨ VÕ ĐẠI TÔN. Vua Quang Trung Đã ĐÁNH TAN 29 Vạn Quân Thanh 👇

Mẹ Việt Nam Ơi Chúng Con Vẫn Còn Đây. Thơ Hoàng Phong Linh {Chiến Sĩ Võ Đại Tôn}. Nhạc, của NS. Nguyễn Ánh 9.Ca sĩ Nguyệt Ánh & Việt Dzũng ↓

THƠ NHẠC CỦA CỐ CHIẾN SĨ VÕ ĐẠI TÔN

KỶ NIỆM CHIẾN THẮNG ĐỐNG ĐA (Mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789)

Hôm nay

Ngày kỷ niệm chiến thắng Đống Đa Lừng danh Lịch Sử. Chúng tôi, đàn con lưu vong viễn xứ Xin cúi đầu lạy tạ Cha Ông. Những bậc Anh Hùng bảo vệ núi sông Qua chiến tích nghìn thu dũng liệt. Đuổi xâm lăng, rạng ngời trang Sử Việt Nét vàng son Tự Chủ giống Rồng Tiên. Bành tượng uy nghi tỏa khí hùng thiêng Quân thần tốc băng sông vượt suối. Hẹn về Thăng Long xô thành bạt núi Dựng cao cờ trên đỉnh trời Xuân.

Vì Tổ Quốc đâu quản ngại gian truân Đem xương máu lót đường hoa Đại Nghĩa. Tiếng voi đi, ngựa hí, rền vang trận địa Lộng tinh kỳ Đại Đế gió bừng say. Bắc Bình Vương uy dũng dáo vèo mây Vung thần kiếm oai linh ngời tinh đẩu. Đánh cho tan loài Bắc phương thảo khấu Diệt cho tàn quân cướp nước xâm lăng. Đại Việt ta, nền tự chủ vĩnh hằng Không cúi nhục, giữ sơn hà xã tắc.

Một trận tiến công, quân thù xanh mặt Trống Ngọc Hồi thay pháo Tết mừng Xuân. Hai trận tiến công, Quân-Tướng hợp quần Như vũ bão, đạp phăng thành Khương Thượng. Sầm-Nghi-Đống bơ vơ dưới trướng Đành sát thân, quân vỡ mật tan hàng. Núi Loa Sơn thây giặc máu nồng loang Hồn chưa thoát nỗi kinh hoàng khiếp vía. Gò Đống Đa, nơi quân thù tuyệt địa Thành mồ chôn, tan vỡ mộng Thanh triều. Hai mươi vạn hùng binh với tướng ngạo quân kiêu

Trong phút chốc phải tan đàn rã đám. Trời Bắc phương mây mù ảm đạm Quân xâm lăng cởi giáp quy hàng. Lũ đuôi sam quỳ lạy kêu van, Tôn-Sĩ-Nghị trốn chui về biên giới. Thành Thăng Long tinh kỳ phất phới Triệu lòng dân mở hội hoa đăng. Một mùa Xuân Chiến Thắng vĩnh hằng Trang sử mới trời phương Nam định vị. Đến muôn đời, nét vàng son cao quý Dành riêng Người Áo Vải đất Tây Sơn.

* * *

Ngày hôm nay Cả non sông đang dậy sóng căm hờn Mộng xâm lăng từ Bắc phương tái diễn. Bản Giốc, Nam Quan, Hoàng Sa đảo biển Rừng Tây Nguyên thành sứ quận chư hầu. Cộng Sản Việt Nam xin dâng hiến cúi đầu Quên sử cũ, vì đảng riêng toàn trị. Chúng tôi đây, nguyện bền gan vững chí Dù tha phương xin vẹn giữ Tâm thành.

Cúi lạy Tiền Nhân từng lẫm liệt uy danh Xin dẫn bước cho Toàn Dân quyết thắng. Xuân Dân Tộc trời phương Nam rạng nắng Hoa Tự Do nở đẹp bước quân hành. Cờ Quang Trung lồng lộng giữa trời xanh Gương Tự Chủ một thời đang chỉ hướng. Quê Hương cội nguồn một ngày mai hưng vượng Đàn con về chung máu giữ non sông !.

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

* Nhiều thơ và chi tiết của Chiến Sĩ Võ Đại Tôn ở Link ▼

http://www.vietnamvanhien.net/hoangphonglinh.html

http://vietnamchinhchien.blogspot.com.au/2016/04/noi-long-dang-me-viet-nam-hoang-phong.html

Đại Tá Võ Đại Tôn * THUỢNG NGHỊ SĨ TÙNG NGÔ CỦA TIỂU BANG NAM ÚC, PHÁT BIỂU TRƯỚC QUỐC HỘI VỀ SỰ QUA ĐỜI CỦA ÔNG VÕ ĐẠI TÔN: https://www.facebook.com/100063647593946/videos/1733141800649481/

Người cận kề cùng Chiến Sĩ Võ Đại Tôn, Nhà Báo Gia Du kể về các giải thưởng Chiến Sĩ Võ Đại Tôn nhận được. https://m.youtube.com/watch?v=s6kal_eMHzc

Vĩnh Biệt Võ Đại Tôn - Những Điều Chưa Nói Về Cú "Lật Kèo" Ngoạn Mục https://www.youtube.com/watch?v=IWllp_rVWVs

Đại Tá Võ Đại Tôn, Nhà Tranh Đấu Nổi Tiếng Qua Đời - Tài Nguyễn Diễn Đọc https://m.youtube.com/watch?v=pPSADRQC8AE

** Thêm chi tiết về Chiến Sĩ Võ Đại Tôn: http://www.vietnamvanhien.org/vodaiton.html

Tiếng Thơ Hoa Vàng - Võ Đại Tôn: Chút Tàn Hơi Vẫn Gọi Mẹ Việt Nam: https://www.youtube.com/watch?v=I1Gv6uge7aA

Lần Tâm Sự Cuối Cùng Với Chiến Sĩ Võ Đại Tôn Tại Bệnh Viện Bankstown. https://m.youtube.com/watch?v=QSHW55oxjAM

Thánh Lễ mai táng Chiến Sĩ Gioan Võ Đại Tôn https://www.youtube.com/watch?v=UkyQ0Pu1o-8

Video Tưởng Nhớ Đại Tá Võ Đại Tôn Tại San Jose, California. https://www.youtube.com/live/bulsWrONVTs

Chiều Thơ Nhạc Tưởng Nhớ Chiến Sĩ Võ Đại Tôn: https://youtu.be/03bzyH63noM?si=E6tEgZlgeGs1Ehx0

—————————-

* THUỢNG NGHỊ SĨ TÙNG NGÔ CỦA TIỂU BANG NAM ÚC, PHÁT BIỂU TRƯỚC QUỐC HỘI VỀ SỰ QUA ĐỜI CỦA ÔNG VÕ ĐẠI TÔN: https://www.facebook.com/100063647593946/videos/1733141800649481/

Người cận kề cùng Chiến Sĩ Võ Đại Tôn, Nhà Báo Gia Du kể về các giải thưởng Chiến Sĩ Võ Đại Tôn nhận được. https://m.youtube.com/watch?v=s6kal_eMHzc

Vĩnh Biệt Võ Đại Tôn - Những Điều Chưa Nói Về Cú "Lật Kèo" Ngoạn Mục https://www.youtube.com/watch?v=IWllp_rVWVs

Đại Tá Võ Đại Tôn, Nhà Tranh Đấu Nổi Tiếng Qua Đời - Tài Nguyễn Diễn Đọc https://m.youtube.com/watch?v=pPSADRQC8AE

** Thêm chi tiết về Chiến Sĩ Võ Đại Tôn: http://www.vietnamvanhien.org/vodaiton.html

* THÁNH LỄ GIỖ 100 NGÀY VÀ AN VỊ TRO CỐT CỦA ÔNG GIOAN VÕ ĐẠI TÔN / TẠI NHÀ THỜ ST FELIX, BANKSTOWN

Sáng nay Chúa Nhật 31.8.2025, tại nhà thờ St Felix, Bankstown - hàng trăm thân hữu đã đến tham dự lễ giỗ 100 ngày, và an vị tro cốt của ông Gioan Võ Đại Tôn - đã qua đời hôm 23.5.2025 tại Bankstown Hospital, hưởng thọ 90 tuổi. https://www.facebook.com/tuy.nguyen.7731/videos/553196501216110/

 * 👇 CHUYỆN KỂ VỀ VƯỢT BIÊN ĐỂ TÌM TỰ DO TẠI VIETNAMESE MUSEUM:-(

👋👋 Cám ơn Quý Vị đến với Tin tức Trung Thực Blogspot. 🙏🙏 Cầu chúc Quý Vị dồi dào sức khỏe 🙏🙏

▼ * Nhấn chữ Older Posts để xem các bài đã đăng trước & Nhấn chữ Home trở về bài mới!

18 February 2026

Video tin tức & MÙA XUÂN KHÔNG CHỈ LÀ HOA NỞ

* Quý Vị thích xem tin tức Cộng Đồng Video - Hồi ký ↓👇 xin hãy nhấn 2 ↓ hàng chữ màu đỏ ▼   
https://khangsydney2.blogspot.com/ http://www.khanghuong.blogspot.com.au/ Xin Quý Vị hãy nhấn chữ màu đỏ trên 🔺
* Quý Vị thích xem 👆Tin tức khắp nơi - Thông Báo Cộng Đồng - Sinh hoạt của Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn VC - Video & Hồi Ký xin hãy nhấn 2 hàng chữ màu đỏ ở trên 👆

👇 MÙA XUÂN KHÔNG CHỈ LÀ HOA NỞ👇

MÙA XUÂN KHÔNG CHỈ LÀ HOA NỞ

Có những mùa xuân bắt đầu bằng tiếng pháo. Có những mùa xuân bắt đầu bằng tiếng chúc tụng. Và có những mùa xuân bắt đầu bằng một phiên tòa.

Năm nay, sự việc của cộng đồng đã được đưa ra tòa vào đúng ngày mùng Một Tết. Không ai mong điều đó. Không ai muốn ngày đầu năm lại gắn với hai chữ “pháp lý”.

Chúng ta là một cộng đồng tị nạn, một cộng đồng đã trải qua quá nhiều biến cố lịch sử. Chúng ta xây dựng đời sống mới trên nền tảng tự do, luật pháp và dân chủ. Vậy mà hôm nay, chính chúng ta lại phải nhờ đến tòa án để phân xử nội bộ của mình.

Đó là điều buồn. Nhưng buồn không có nghĩa là sai. Và buồn không có nghĩa là không cần thiết. Trong bất kỳ tổ chức nào, nội quy không phải là hình thức. Nó là bản cam kết chung giữa những người tham gia.

Khi một nhiệm kỳ kết thúc, quyền lực kết thúc theo. Khi một cơ chế bầu cử đã được thiết lập, nó phải được tôn trọng. Khi một tập thể hội đoàn đã bỏ phiếu, quyết định ấy phải có giá trị.

Nếu những nguyên tắc căn bản đó bị phá vỡ, thì cộng đồng sẽ vận hành dựa trên điều gì? Thiện chí? Niềm tin cá nhân? Hay sự im lặng vì ngại va chạm?

Chúng ta đã thử hòa giải. Đã gửi tối hậu thư. Đã kêu gọi đối thoại. Nhưng khi nội quy không được phục hồi, khi các quyết định không được tôn trọng, khi lời kêu gọi không được lắng nghe, thì con đường pháp lý trở thành lựa chọn cuối cùng.

Không phải để thắng. Mà để xác lập ranh giới. Không có nỗi buồn nào lớn hơn khi cùng một cộng đồng phải bước vào phòng xử án. Những người từng ngồi chung bàn họp. Từng tổ chức chung lễ hội. Từng chụp hình chung trong các dịp kỷ niệm.

Giờ đây phải đứng ở hai phía của một hồ sơ pháp lý. Đó là hình ảnh không ai mong muốn. Nhưng đôi khi, để cứu một căn nhà đang nứt nền móng, người ta phải chấp nhận đục bỏ những viên gạch sai lệch.

Không làm, căn nhà sẽ sập. Làm, sẽ đau. Nhưng đau còn hơn tan vỡ. Tết không chỉ là thời khắc giao mùa. Tết còn là lúc người ta nhìn lại. Nhìn lại một năm đã qua. Nhìn lại những quyết định đã đưa ra. Nhìn lại mình.

Đưa vụ việc ra tòa trong ngày đầu năm không phải là điều xúc phạm truyền thống. Ngược lại, đó là cách nói với thế hệ sau rằng:

Chúng ta không dùng cảm xúc để giải quyết xung đột. Chúng ta dùng luật pháp. Chúng ta không nhân danh hòa khí để bỏ qua sai phạm.

Chúng ta chọn nguyên tắc. Một cộng đồng trưởng thành không phải là cộng đồng không có khủng hoảng. Mà là Cộng Đồng biết xử lý khủng hoảng bằng chuẩn mực.

Luật pháp không quan tâm anh là ai. Không quan tâm anh đã đóng góp bao nhiêu năm. Không quan tâm anh được ai ủng hộ. Luật pháp chỉ hỏi ba điều:

Anh có thẩm quyền không? Anh có làm đúng quy trình không? Anh có tôn trọng quyền của người khác không? Nếu câu trả lời không rõ ràng, thì tòa án sẽ làm rõ. Đó không phải là hành động chống lại cá nhân. Đó là bảo vệ cấu trúc.

Nếu chúng ta để tiền lệ “quyền lực vượt khỏi nhiệm kỳ” tồn tại, thì nhiệm kỳ sau cũng có thể làm như vậy. Nếu chúng ta chấp nhận “hủy bỏ cơ chế bầu cử khi bất lợi”, thì tương lai bầu cử chỉ còn là hình thức.

Một Cộng Đồng không tôn trọng giới hạn quyền lực sẽ không còn được tôn trọng. Điều đáng sợ nhất không phải là một phiên tòa. Điều đáng sợ nhất là thế hệ trẻ nhìn vào và rút lui.

Họ sinh ra và lớn lên trong một xã hội pháp quyền. Họ hiểu rằng quyền lực có giới hạn. Họ hiểu rằng quy trình không phải để trang trí. Khi họ thấy bầu cử bị vô hiệu hóa. Thấy cơ chế giám sát bị loại bỏ. Thấy quyết định tập thể bị phớt lờ.

Họ không tranh cãi. Họ rời đi. Và một Cộng Đồng có thể tồn tại bao lâu nếu không còn người trẻ bước vào? Mùa xuân đẹp đến mấy cũng sẽ qua. Nếu không có mầm mới, cây sẽ già cỗi. Chúng ta phải nói rõ điều này:

Không ai thắng khi vụ việc ra tòa. Không Hội Đoàn nào vui. Không xã hội dân sự nào hả hê. Không cá nhân nào tự hào. Chỉ có một điều duy nhất được bảo vệ:

nguyên tắc. Nếu tòa xác định có sai phạm, thì đó là bài học. Nếu tòa xác định không có sai phạm, thì cũng là bài học. Nhưng ít nhất, chuẩn mực sẽ được xác lập bằng luật pháp – không bằng cảm tính.

Chúng ta không chống ai. Chúng ta chống sự tùy tiện. Chúng ta không tìm xung đột. Chúng ta tìm trật tự. Chúng ta không mong hạ bệ cá nhân. Chúng ta mong khôi phục quy trình.

Cương quyết không có nghĩa là cay nghiệt. Kiên định không có nghĩa là hằn học. Một cộng đồng tự do phải đủ trưởng thành để đưa vấn đề ra ánh sáng, thay vì giải quyết trong bóng tối.

Có lẽ điều chúng ta mong nhất không phải là một phán quyết nghiêng về bên nào. Mà là sau tất cả, cộng đồng này bước ra khỏi khủng hoảng với:

Một quy trình rõ ràng hơn. Một giới hạn quyền lực minh bạch hơn. Một niềm tin được phục hồi. Mùa xuân năm sau, khi chúng ta nhìn lại, hy vọng có thể nói:

Chúng ta đã chọn đúng con đường. Con đường Luật Pháp. Con đường không dễ đi. Nhưng là con đường duy nhất để Cộng Đồng này không trượt khỏi quỹ đạo.

Mùng Một Tết năm nay bắt đầu bằng một hồ sơ pháp lý. Đó không phải điều chúng ta mong. Nhưng có những quyết định không dễ dàng, và có những quyết định khó nhưng không thể không làm.

Chúng ta chọn luật pháp không phải vì muốn hơn thua. Mà vì muốn Cộng Đồng này còn tồn tại. Buồn – nhưng cần thiết. Đau – nhưng phải làm. Tình cảm – nhưng không nhượng bộ nguyên tắc.

Vì nếu Luật Pháp không được tôn trọng hôm nay, thì ngày mai sẽ không còn Cộng Đồng để bảo vệ!

  * ↓ Nguồn gốc tin tức trên Facebook Duy Tien Tran ↓ https://www.facebook.com/reel/1668962311141836/ 👈
👈
 * 👇 CHUYỆN KỂ VỀ VƯỢT BIÊN ĐỂ TÌM TỰ DO TẠI VIETNAMESE MUSEUM:-(

👋👋 Cám ơn Quý Vị đến với Tin tức Trung Thực Blogspot. 🙏🙏 Cầu chúc Quý Vị dồi dào sức khỏe 🙏🙏

▼ * Nhấn chữ Older Posts để xem các bài đã đăng trước & Nhấn chữ Home trở về bài mới!

13 February 2026

Video cập nhật ngày 03/03/2026 & Dạ Tiệc Mừng Xuân của Hội Cảnh Sát Quốc Gia VNCH/NSW

* Quý Vị thích xem tin tức Cộng Đồng Video - Hồi ký ↓👇 xin hãy nhấn 2 ↓ hàng chữ màu đỏ ▼   
https://khangsydney2.blogspot.com/ http://www.khanghuong.blogspot.com.au/ Xin Quý Vị hãy nhấn chữ màu đỏ trên 🔺
* Quý Vị thích xem👆Tin tức khắp nơi - Thông Báo Cộng Đồng - Sinh hoạt của Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn VC - Video & Hồi Ký xin hãy nhấn 2 hàng chữ màu đỏ ở trên ↑ 👆 👇 Video tin tức Sydney & Dạ Tiệc Mừng Xuân của Hội Cảnh Sát Quốc Gia VNCH/NSW👇

Video Tin Sydney. Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do và ông Hà Cao Thắng chính thức bị thưa ra tòa Thượng Thẩm NSW

Tối ngày 13/02/2026 tại Văn phòng Hội Cao Niên vùng Cabramatta. được sự tín nhiệm của 29/31 Hội Đoàn, Đoàn Thể NSW. Hội Đồng Tư Vấn Giám Sát NSW cùng Tổ Chức Xã Hội Dân Sự chính thức tuyên bố đã nộp đơn kiện Ban Chấp Hành Cộng Đồng do ông Hà Cao Thắng hiện đang thao túng ra trước Toà Thượng Thẩm NSW qua các hành động sai trái liên tiếp trong thời gian gần đây .

Tưởng cũng cần nhắc lại: Trong thời gần đây, ông Hà Cao Thắng đã ngưng tư cách tham gia của một số Hội Đoàn, Đoàn Thể NSW. Hội Đồng Tư Vấn Giám Sát NSW và cá Nhân không thuộc về phe nhóm của ông, cũng như truất quyền của Ủy Ban Bầu Cử khi nhận ra rằng, sẽ có một liên danh khác cũng sẽ ra ứng cử với liên danh của ông thụ ủy trong trong nhiệm kỳ sắp tới.

Xa hơn nữa, ông Hà Cao Thắng quyết định ngưng tư cách Hội Viên cá Nhân của bà Luật Sư Kate Hoàng, Thụ Uỷ Liên Doanh Hậu Duệ Việt Nam Cộng Hoà, không được ra ứng cử với Liên Danh Tương Lai của ông thụ ủy trong nhiệm kỳ 2025-2027.

Trước các vi phạm Nội Qui trầm trọng kể trên của ông Hà Cao Thắng và Ban Chấp Hành đã dẫn đến việc mang vụ án này ra trước Toà Thượng Thẩm trong những ngày tháng sắp tới.

Vi Manh ghi nhận từ

Cabramatta 13/02/2026

  * ↓ Audio Facebook Duy Tien Tran ↓
 * 👇 CHUYỆN KỂ VỀ VƯỢT BIÊN ĐỂ TÌM TỰ DO TẠI VIETNAMESE MUSEUM:-(

👋👋 Cám ơn Quý Vị đến với Tin tức Trung Thực Blogspot. 🙏🙏 Cầu chúc Quý Vị dồi dào sức khỏe 🙏🙏

▼ * Nhấn chữ Older Posts để xem các bài đã đăng trước & Nhấn chữ Home trở về bài mới!

10 February 2026

Tết Song Ngữ - Lunar New Year Bilingual 🥂 🥳🥳 Cầu chúc quý Vị 5 Châu trọn năm Bính Ngọ VẠN SỰ NHƯ Ý 🍷🍷

* Quý Vị thích xem tin tức Cộng Đồng Video - Hồi ký ↓👇 xin hãy nhấn 2 ↓ hàng chữ màu đỏ ▼   
https://khangsydney2.blogspot.com/ http://www.khanghuong.blogspot.com.au/ Xin Quý Vị hãy nhấn chữ màu đỏ trên 🔺
* Quý Vị thích xem👆Tin tức khắp nơi - Thông Báo Cộng Đồng - Sinh hoạt của Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn VC - Video & Hồi Ký xin hãy nhấn 2 hàng chữ màu đỏ ở trên ↑ 👆 Tết Song Ngữ - Lunar New Year Bilingual 🥳🥳 Cầu chúc quý Vị 5 Châu trọn năm Bính Ngọ VẠN SỰ NHƯ Ý🍷🍷
VNCH5 LỊCH SỬ QUỐC KỲ VIỆT NAM (Song ngữ Anh-Việt)

NGUỒN GỐC - Ý NGHĨA CỦA "TẾT"

Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết năm mới hay chỉ đơn giản là : TẾT) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam

Các di vật khảo cổ cho thấy, chúng ta đã từng có 1 nền văn minh rực rỡ chẳng kém cạnh ai. Từ thời Văn Lang – Âu Lạc Vua Hùng Vương, An Dương Vương đã hình thành nên những phong tục, tập quán của người Việt, trong đó có tục “ăn Tết” trong những ngày đầu năm mới.

Minh chứng rõ nhất cho việc này đó là sự xuất hiện của bánh chưng, bánh dày, nhờ sáng kiến của Lang Liêu, con trai thứ 18 của đời Hùng Vương thứ 6. Và sự tích “Bánh chưng bánh dày” biểu trưng cho quan niệm “Trời tròn – Đất vuông” phù hợp với quan niệm phát triển nông nghiệp của tộc Việt.

Văn hóa Việt thuộc nền văn minh nông nghiệp lúa nước, do nhu cầu canh tác nông nghiệp, đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau-ứng với 1 tiết là 1 khắc được gọi là "giao thời". Trong đó, tiết quan trọng nhất là " Tiết Nguyên Đán", tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng

Nguyên gốc của chữ “TET" chính là “Tiết”.

Hai chữ “Nguyên Đán”, “Nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu và “Đán” là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phải là “Tiết Nguyên Đán”, theo năm tháng gọi khác đi là: " Tết Nguyên Đán", rồi rút gọn lại cho dễ nhớ chỉ một từ là "TẾT" cho đến tận bây giờ và sẽ mãi mãi sau này.

Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch (Tết Tây).

Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch.

Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).

Ý NGHĨA SÂU SẮC NGÀY TÊT

Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống của Việt Nam, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây.

Tết Nguyên Đán biểu hiện sự giao thoa giữa trời đất và con người với thần linh, giữa con người và thiên nhiên.

Tết, thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự luân chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Người Việt Nam có tục lệ hằng năm mỗi khi Tết đến Xuân về, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu đều mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà,… được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương của tuổi thơ yêu dấu. “Về quê ăn Tết”, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về với cội nguồn, nơi chôn nhau cắt rốn.

Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng, làng xóm được mở rộng, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình cảm gia đình, tình cảm thầy trò, bệnh nhân với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác hợp thành đôi lứa, bè bạn cố tri…

Tết cũng là ngày tưởng nhớ đến những người đã khuất. Từ bữa cơm ngày 30, trước giao thừa, các gia đình đã thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên và những người thân đã qua đời về vui Tết với con cháu (cúng gia tiên). Trong mỗi gia đình Việt Nam, bàn thờ gia tiên có một vị trí rất quan trọng.

Bàn thờ gia tiên ngày Tết là sự thể hiện lòng tưởng nhớ, kính trọng của người Việt đối với tổ tiên, người thân đã khuất với những mâm ngũ quả được lựa chọn kỹ lưỡng; mâm cỗ với nhiều món ngon hay những món ăn quen thuộc của người đã mất.

Từ đây cho đến hết Tết, khói hương trên bàn thờ gia tiên quyện với không khí thiêng liêng của sự giao hòa vũ trụ làm cho con người trở nên gắn bó với gia đình của mình hơn bao giờ hết. Để sau Tết Nguyên Đán, cuộc sống lại bắt đầu một chu trình mới của một năm.

Mọi người trở về với công việc thường nhật của mình, mang theo những tình cảm gia đình đầm ấm có được trong những ngày Tết để hướng đến những niềm vui trong cuộc sống và những thành công mới trong tương lai.

Tết là ngày đầu tiên trong năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và “làm mới” mọi việc. Việc làm mới có thể được bắt đầu về hình thức như dọn dẹp, quét vôi, sơn sửa trang trí lại nhà cửa. Sàn nhà được chùi rửa, chân nến và lư hương được đánh bóng. Bàn ghế tủ giường được lau chùi sạch sẻ. Người lớn cũng như trẻ con đều tắm rửa và mặc quần áo mới.

Đây cũng là dịp mọi người làm mới lại về phần tình cảm và tinh thần để mối liên hệ với người thân được gắn bó hơn, tinh thần thoải mái, tươi vui hơn. Với mỗi người, những buồn phiền, cãi vã được dẹp qua một bên. Tối thiểu ba ngày Tết, mọi người cười hòa với nhau, nói năng từ tốn, lịch sự để mong suốt năm sắp tới mối quan hệ được tốt đẹp.

Người Việt Nam tin rằng những ngày Tết vui vẻ đầu năm báo hiệu một năm mới tốt đẹp sẽ tới. Năm cũ đi qua mang theo những điều không may mắn và năm mới bắt đầu mang đến cho mọi người niềm tin lạc quan vào cuộc sống. Nếu năm cũ khá may mắn, thì sự may mắn sẽ kéo dài qua năm sau.Với ý nghĩa này, Tết còn là ngày của lạc quan và hy vọng.

Tết là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là mừng nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ nhỏ và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi; còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được báo hiếu và hưởng ân phúc.

Xin Kính Chúc Mọi Gia Đình Khắp Nơi Trên Toàn Cầu Vui Tết Đón Xuân An Lành, Hạnh Phúc.

Trân Trọng,

Cao Kim Dung.

Những ngày giáp Tết

* ↓ Nguồn gốc bài viết trên ↓
 * 👇 CHUYỆN KỂ VỀ VƯỢT BIÊN ĐỂ TÌM TỰ DO TẠI VIETNAMESE MUSEUM

👋👋 Cám ơn Quý Vị đến với Tin tức Trung Thực Blogspot. 🙏🙏 Cầu chúc Quý Vị dồi dào sức khỏe 🙏🙏

▼ * Nhấn chữ Older Posts để xem các bài đã đăng trước & Nhấn chữ Home trở về bài mới!

08 February 2026

Video tin tức & Một cuộc hội ngộ hy hữu và cảm động

* Quý Vị thích xem tin tức Cộng Đồng Video - Hồi ký ↓👇 xin hãy nhấn 2 ↓ hàng chữ màu đỏ ▼   
https://khangsydney2.blogspot.com/ http://www.khanghuong.blogspot.com.au/ Xin Quý Vị hãy nhấn chữ màu đỏ trên 🔺
* Quý Vị thích xem👆Tin tức khắp nơi - Thông Báo Cộng Đồng - Sinh hoạt của Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn VC - Video & Hồi Ký xin hãy nhấn 2 hàng chữ màu đỏ ở trên ↑ 👆 👇 Video tin tức & Một cuộc hội ngộ hy hữu và cảm động 👇

♥️♥️ ↓ Một cuộc hội ngộ hy hữu và cảm động 💓💓 ▼

Một cuộc hội ngộ hy hữu và cảm động

Tôi vốn dự định sẽ tiếp tục viết và chia sẻ cùng bạn bè những nơi mình đi qua trong chuyến du lịch lần này theo trình tự thời gian. Thế nhưng, có những khoảnh khắc không thể chờ đợi. Có những cuộc gặp, nếu không được kể ra ngay, thì chính lòng mình cũng thấy thôi thúc và cả day dứt. Và vì thế, tôi xin được tạm gác lại dòng hành trình, để kể về cuộc hội ngộ kỳ thú giữa ông Peter Anderson và chúng tôi, xảy ra hôm qua tại Timaru.

Vâng, kỳ thú – bởi quả thật đó là một cuộc gặp gỡ vừa kỳ lạ, vừa xúc động, như thể không hoàn toàn là ngẫu nhiên, mà có phần được sắp đặt bởi một cơ duyên nào đó từ Trời cao.

⸻-------

Hôm qua, trên chuyến xe bus đi tìm hiểu quanh thị trấn Timaru, người hướng dẫn tour của chúng tôi là một cựu quân nhân New Zealand, nay đã gần 80 tuổi. Ông Peter Anderson không phải là một hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp. Ông chỉ là một người làm thiện nguyện, theo xe bus để giới thiệu đôi điều về địa phương và giúp gây quỹ cho nhà thờ. Mọi cử chỉ của ông đều toát lên sự lặng lẽ, khiêm nhường – như chính cuộc đời ông, với những tâm sự thầm kín được giữ lại cho riêng mình suốt nhiều thập niên.

Cuộc hội ngộ bắt đầu khi ông nhìn thấy chiếc áo HS–TS với bản đồ Việt Nam do một người trong nhóm chúng tôi mặc. Ông nói rằng ông biết chúng tôi đến từ đâu. Chúng tôi gợi chuyện, và khi biết ông từng tham gia Chiến tranh Việt Nam, chúng tôi ngỏ lời cám ơn ông vì đã chiến đấu để bảo vệ tự do cho Miền Nam Việt Nam. Ông sững lại.

Đôi mắt già nua bỗng ngấn lệ.

Ánh mắt ông nói cho biết lời cám ơn ấy đã chạm đúng vào một nỗi đau vẫn âm ỉ suốt hơn nửa thế kỷ.

Ông sinh năm 1947, được điều động sang Việt Nam năm 1969, phục vụ tròn một năm. Khi ấy, ông và những người đồng đội chỉ là những chàng trai rất trẻ, đi vào chiến tranh theo lệnh điều động của quân đội và tiếng gọi của đất nước New Zealand. Họ không có nhiều quyền chọn lựa. Họ chỉ có niềm tin rằng mình đang làm điều đúng, và bổn phận là phải đi.

Nhưng bi kịch thật sự, như ông nói, không chỉ nằm ở chiến trường. Nó còn bắt đầu sau khi họ sống sót trở về.

Từ cuối thập niên 1960, tương tư như các quốc gia có gởi quân tham chiến, xã hội New Zealand bị chia rẽ sâu sắc bởi phong trào phản chiến. Dưới ảnh hưởng của phong trào này, Chiến tranh Việt Nam ngày càng bị nhìn như một sai lầm chính trị và đạo đức.

Trong làn sóng ấy, cũng như tại Hoa Kỳ, nhiều người lính khi trở về không được chào đón, không được vinh danh, thậm chí còn bị xa lánh. Sự phẫn nộ dành cho chính sách và cho chiến tranh đã vô tình trút cả lên vai những người lính – những con người chỉ làm tròn bổn phận của mình.

Vì thế, những người như ông Peter Anderson phải mang theo mình hai vết thương: một từ chiến trường xa xôi, nơi một số đồng đội đã vĩnh viễn ra đi; và một từ chính trên quê hương mình.

Rời xe bus, chúng tôi một lần nữa cám ơn ông và trao đổi thông tin liên lạc, như một lời hẹn còn bỏ ngỏ.

Sau khi chuyến tham quan Timaru kết thúc, theo thói quen, chúng tôi ghé vào một quán bar để uống vài ly bia địa phương. Rồi một ý nghĩ chợt đến: mời ông cùng tham gia. Khi nhận được điện thoại, ông vui hẳn lên. Chúng tôi nhờ ông mời thêm các cựu chiến binh từng tham gia Chiến tranh Việt Nam. Ông bảo ở Timaru chỉ còn khoảng ba người, nhưng họ hoặc không có nhà, hoặc ở xa.

Chỉ mười lăm phút sau, ông xuất hiện – gương mặt hớn hở, đi cùng một người phụ nữ lớn tuổi, có khuôn mặt hiền từ. Ông giới thiệu đó là vợ ông, bà Linda Mary Anderson. Ông nói, ông muốn bà cùng đi để chia sẻ niềm vui hôm nay, và cũng để bà lái xe đưa ông về sau khi ông uống bia.

Nhờ cuộc gặp gỡ bất ngờ ấy, chúng tôi có dịp trò chuyện nhiều hơn. Ông tâm sự rất chân thành về gia đình. Được biết hai ông bà cũng có một người con trai hiện cũng theo gương cha, đang phục vụ trong Không quân New Zealand. Ông cho chúng tôi xem tấm hình cũ của ông chụp trong thời gian tham chiến tại Việt Nam. Dường như đó không chỉ là hình ảnh, mà là một cánh cửa được mở ra, để ông chạm lại vào một quá khứ luôn hằn sâu trong tâm khảm – một nỗi đau chưa bao giờ thật sự ngủ yên.

Chúng tôi trò chuyện rôm rả. Ông cười nhiều, nụ cười thật tươi và nhẹ nhõm. Bà, với giọng nhỏ nhẹ, nói rằng hôm nay bà thấy ông vui khác lạ – một niềm vui chứa đựng sự xúc động mà suốt 55 năm chung sống, bà chưa từng thấy nơi ông.

Về phần chúng tôi, tận sâu trong lòng mình, chúng tôi cũng vui mừng không kém. Bởi chúng tôi đã có dịp nói lên lòng tri ân, trong tư cách là những người con của Miền Nam Việt Nam. Sống tại Hoa Kỳ gần nửa thế kỷ, gặp gỡ và tiếp xúc với nhiều cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam, chúng tôi hiểu rất rõ tâm trạng của họ. Và cũng vì lẽ đó, chúng tôi luôn trân trọng và biết ơn những hy sinh của họ – để thế hệ chúng tôi đã có những năm tháng được sống trong tự do, được đến trường học hành.

Chúng tôi và ông như cùng hòa vào một nhịp suy nghĩ, một nỗi tiếc nuối chung. Ông nói rằng, khi hay tin Miền Nam thất thủ, giữa nỗi buồn bị chính đất nước mình quay lưng với sự hy sinh của ông và đồng đội, một cảm giác chua chát ập đến. Nỗi đau ấy càng quặn thắt hơn khi ông nghĩ rằng, có lẽ sự hy sinh ấy đã trở nên vô ích.

Cuộc chuyện trò đầy tình thân rồi cũng phải khép lại, vì chúng tôi đến giờ trở về tàu. Trước lúc chia tay, chúng tôi kể cho ông nghe về dự án xây dựng Tượng đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt–Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam tại thành phố Springboro – nơi sẽ có cờ của New Zealand và các nước đồng minh từng tham chiến tung bay.

Khi nghe dự kiến tượng đài sẽ khánh thành vào tháng 11 năm nay, mắt ông lại ánh lên một niềm vui, như thể một sự trùng hợp mang màu sắc định mệnh. Tháng sinh nhật của ông cũng là tháng 11.

Ông nói sẽ cố gắng sắp xếp để tham dự. Chúng tôi hứa sẽ lo vé máy bay cho hai ông bà, như một món quà sinh nhật dành cho ông.

Trước khi chia tay, chúng tôi cùng chụp hình làm kỷ niệm. Ông nói rằng ông sẽ vô cùng tự hào khi kể lại cuộc hội ngộ hôm nay với Hội Cựu Chiến Binh Chiến tranh Việt Nam của New Zealand.

Chúng tôi rời nhau trong bịn rịn, trong tiếc nuối, và không khỏi ray rứt khi nghĩ về những gì mà mỗi người chúng tôi và ông đã phải trải qua – trong chiến tranh, và cả những chịu đựng lặng lẽ sau khi chiến tranh chấm dứt.

Tôi viết vội bài này khi cảm xúc của cuộc hội ngộ vẫn còn đầy ắp, để ghi lại – trước hết – cho các thế hệ mai sau biết rằng: đã từng có những con người, đến từ một đất nước ở tận cực Nam của Trái Đất, có tên là New Zealand (trước năm 1975, người Việt gọi là Tân Tây Lan), tuy không cùng ngôn ngữ, không cùng màu da, nhưng đã rời quê hương mình để sang chiến đấu cho tự do của Miền Nam Việt Nam.

Họ không đến như những người chinh phục. Họ đến như những người lính, mang theo niềm tin vào bổn phận, vào tự do, và vào lời hứa của đồng minh.

Và nhiều người trong số họ đã hy sinh mạng sống trong cuộc chiến. Hoặc nếu sống sót trở về, thì phải âm thầm mang theo nỗi đau không được thấu hiểu, không được đón nhận, suốt phần đời còn lại.

Bài viết này cũng là lời tri ân chân thành gửi đến tất cả các cựu chiến binh New Zealand đã từng tham gia Chiến tranh Việt Nam – qua câu chuyện của một con người cụ thể, mà chúng tôi có cơ duyên được gặp gỡ nơi thị trấn Timaru yên bình.

Bài viết cũng được chuyển ngữ sang tiếng Anh, để ông Anderson và đồng đội của ông đọc và biết rằng những hy sinh của họ vẫn còn được chúng ta ghi nhớ và trân trọng.

⸻------------------

An Unforgettable Encounter

I originally planned to continue writing and sharing with friends the places I visited on this journey, following the timeline of the trip. Yet there are moments that cannot wait. There are encounters which, if not written down immediately, leave one’s heart unsettled. And so, I set aside the flow of the journey to recount an unforgettable encounter between Mr. Peter Anderson and our group, which took place yesterday in Timaru.

Yes—unforgettable. For it was a meeting both unexpected and deeply moving, as if it were not entirely by chance, but rather gently arranged by a providence from above.

⸻--------------

Yesterday, on a sightseeing bus tour around the town of Timaru, our guide was a former New Zealand serviceman, now nearly 80 years old. Mr. Peter Anderson is not a professional tour guide. He is a volunteer who accompanies the bus to introduce local places of interest and to help raise funds for the church. Everything about him reflects a quiet humility—much like his life itself, with thoughts and emotions he has kept to himself for many decades.

The encounter began when he noticed a shirt worn by one of us, bearing a map of Vietnam with the HS–TS islands. He said he immediately knew where we were from. As we continued talking and learned that he had served in the Vietnam War, we thanked him for fighting to defend the freedom of South Vietnam. He paused. His aged eyes suddenly filled with tears.

His eyes alone told us that those words of thanks had touched a pain that had quietly lingered for more than half a century.

Born in 1947, he was deployed to Vietnam in 1969, serving for one full year. At that time, he and his comrades were very young men, sent to war by military orders and the call of their country, New Zealand. They had little choice. They carried only the belief that they were doing what was right, and that duty required them to go.

But the true tragedy, as he told us, did not lie only on the battlefield. It began after they survived and returned home.

From the late 1960s onward, New Zealand society was deeply divided by the anti-war movement. Under its influence, the Vietnam War increasingly came to be seen as a political and moral mistake. In that climate—much like in the United States—many returning soldiers were not welcomed, not honored, and in some cases even shunned. Anger toward government policy and the war itself was unjustly placed upon the soldiers—men who had simply fulfilled their duty.

Thus, people like Peter Anderson carried two wounds: one from a distant battlefield, where some of their comrades never returned; and another from their own homeland.

As we stepped off the bus, we thanked him once more and exchanged contact information, leaving an open promise to stay in touch.

After the tour ended, as was our habit, we stopped at a local bar for a few glasses of beer. Then a thought came to us: to invite him to join us. When he received the call, his joy was immediate. We asked if he could invite other Vietnam War veterans. He told us that there were only about three left in Timaru, but at that time they were either away or lived too far.

Just fifteen minutes later, he arrived—his face bright with happiness—accompanied by an elderly woman with a gentle expression. He introduced her as his wife, Mrs. Linda Mary Anderson. He said he wanted her to come along to share in his joy, and also to drive him home afterward.

Thanks to that unexpected meeting, we had the chance to talk more deeply. He spoke candidly about his family. We learned that their son, following his father’s path, is currently serving in the Royal New Zealand Air Force. He showed us an old photograph of himself taken during his time in Vietnam. It felt as though a door had been opened—allowing him to touch once more a past deeply etched in his soul, a pain that had never truly fallen asleep.

Our conversation flowed easily. He smiled often—a light, genuine smile. In a soft voice, his wife remarked that she had never seen him so joyful, nor so deeply moved, in their 55 years of marriage.

As for us, we too felt a profound joy. For we had been given the chance to express our gratitude, as children of South Vietnam. Having lived in the United States for nearly half a century and having met many Vietnam War veterans, we understand well the emotional burdens they carry. And for that reason, we hold deep respect and appreciation for their sacrifices—sacrifices that allowed our generation to grow up in freedom and to pursue education.

We found ourselves sharing a common feeling of regret and reflection. He told us that when he learned of the fall of South Vietnam, amid the pain of feeling that his own country had turned its back on the sacrifices made by him and his comrades, a deep bitterness set in. That pain grew sharper with the thought that perhaps their sacrifices had been in vain.

Our warm conversation eventually came to an end as we had to return to our ship. Before parting, we told him about the Vietnam–American Veterans Memorial project in Springboro—a memorial where the flags of New Zealand and other allied nations that fought in the war will fly. When he heard that the dedication is planned for this coming November, his eyes lit up once again, as if by a meaningful coincidence. November is also his birth month.

He said he would do his best to attend. We promised to take care of airfare for both him and his wife, as a birthday gift for him.

Before saying goodbye, we took photographs together. He said he would be very proud to share this encounter with the New Zealand Vietnam Veterans’ community.

We parted with lingering emotion and regret, reflecting on all that each of us—and he—had endured: during the war, and in the quiet suffering that followed its end.

I write this piece while the emotions of that encounter are still vivid, to leave a record—above all—for future generations to know that there were people from a country at the far southern edge of the Earth, called New Zealand (known to Vietnamese before 1975 as Tan Tay Lan), who, though different in language and appearance, left their homeland to fight for the freedom of South Vietnam.

They did not come as conquerors.

They came as soldiers, guided by duty, by faith in freedom, and by the promise made to an ally.

Many of them lost their lives in that war. Others survived, only to carry—silently and for the rest of their lives—the pain of being misunderstood and unacknowledged.

This article is offered as a heartfelt tribute to all New Zealand veterans of the Vietnam War, through the story of one man whom we were fortunate to meet in the peaceful town of Timaru.

It has been translated into English so that Mr. Anderson and his comrades may know that their sacrifices are remembered and deeply respected.

Timaru, New Zealand

Feb 6, 2026

* ↓ Copy on Khang Do's Facebook ↓
 * 👇 CHUYỆN KỂ VỀ VƯỢT BIÊN ĐỂ TÌM TỰ DO TẠI VIETNAMESE MUSEUM:-(

👋👋 Cám ơn Quý Vị đến với Tin tức Trung Thực Blogspot. 🙏🙏 Cầu chúc Quý Vị dồi dào sức khỏe 🙏🙏

▼ * Nhấn chữ Older Posts để xem các bài đã đăng trước & Nhấn chữ Home trở về bài mới!

Blog Archive